Làng gốm Bát Tràng xưa và nay

Bát Tràng là một làng cổ ven đô thuộc huyện Gia Lâm, vốn là đất Bắc Ninh, nay là ngoại thành Hà Nội, từ lâu đã được người trong và ngoài nước biết đến. Đó là làng quê từng sinh ra những bậc khoa bảng lừng danh, những người thợ gốm tài hoa, những người con trung hiếu mà tên tuổi và sự nghiệp của họ đã làm rạng rỡ cho quê hương xứ sở. Bát Tràng cũng là làng gốm đã làm ra nhiều vật phẩm gốm độc đáo mang sắc thái riêng mà trong nhiều thế kỷ qua được ưa dùng từ trong dân gian đến cung đình, từ quà tặng biếu đến đồ cống phẩm ngoại giao.

Tìm lại cội nguồn

Kể từ lúc hình thành phường Bạch Thổ đến ngày nay, làng gốm Bát Tràng đã trải qua bề dày lịch sử hơn 500 năm. Bát Tràng ngày nay là một vùng nhà cửa sầm uất, có bến thuyền bè nhộn nhịp bên bờ tả ngạn sông Hồng. Ngày nay vị trí có chuyển dịch lên chút ít so với trước kia, những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khi làm móng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, người ta đã tìm thấy vết tích của lò gốm, bể nước, sân gạch dưới độ sâu hơn 10 mét phù sa. Cho nên chúng ta còn lắm băn khoăn trước câu trả lời về cội nguồn và lịch sử phát triển nghề làm gốm men ở Bát Tràng xưa.

Kết quả nghiên cứu cho đến gần đây đã đưa tới nhiều kết luận về làng gốm Bát Tràng, đặc biệt là các phát hiện và khai quật khảo cổ học. Gần 20 năm trước, tại xã Đa Tốn, cách Bát Tràng chưa đầy 2 cây số, người dân ở thôn Lê Xá và Đào Xuyên khi đào đất đã tìm thấy những vật phẩm của nhiều thời đã qua kể từ đầu công nguyên đến thời Trần – Lê Sơ, thế kỷ XV. Xã Đa Tốn, vốn không phải là xã có nghề gốm truyền thống, nhưng ở bên cạnh Bát Tràng – một “thị trường gần” thế nào mà chẳng tồn đọng những phế phẩm của lò gốm xưa? Vậy nên chúng tôi rất chú ý khi phát hiện những bát đĩa, âu, bình gốm men ngọc có trang trí nổi hoa cúc, sen, hoa dây cách điệu thuộc thời Trần, tương tự như nhiều dấu tích ở Hoa Lư (Ninh Bình), Vân Đồn (Quảng Ninh)… Lại có cả những bát, đĩa “sống men” và nhiều chiếc rạn, nứt cong vênh rõ ràng là loại thứ phẩm của lò gốm. Sưu tập này phát hiện ở Đào Xuyên, nay lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Còn những chậu gốm men hoa nâu với bố cục hoa dây cách điệu hình sin, khắc chìm tô nâu hay khắc chìm để mộc trên nền nâu, được phát hiện cùng những chiếc đĩa hoa lam cỡ lớn cong vênh, nền trắng ngà, hoa văn cành hoa cúc ở giữa lòng được vẽ bằng bút lông mềm mại, chính là đồ gốm thời Trần – Lê Sơ phát hiện ở làng Lê Xá. Phải chăng, đây là những thông tin có liên quan đến việc nghiên cứu gốm Bát Tràng ở thời Trần, Lê Sơ?

Tháng 3 năm 2003, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Sở VH-TT Hà Nội đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành thám sát và khai quật khảo cổ học di tích Kim Lan, một xã liền kề phía nam xã Bát Tràng. Trong số các di vật tìm được của cuộc khảo sát, khai quật, chiếm số lượng lớn là đồ gia dụng như bát, đĩa, âu, ống nhổ… tập trung ở các dòng men đặc trưng thời Trần giống sưu tập gốm men đã biết ở Đa Tốn như men ngọc, men nâu, hoa nâu, hoa lam v.v…

Bên cạnh đó còn có các di vật phản ánh kỹ thuật sản xuất như bao nung, con kê, đồ phế phẩm, cục làm men…

Các thông tin phát hiện và khai quật khảo cổ học trên đây đã góp phần chứng minh nghề gốm ở Bát Tràng phải xuất hiện ít nhất là từ thời Trần.

Nếu đi từ nguồn tài liệu truyền thuyết dân gian, chúng ta sẽ gặp nhiều thông tin bổ ích nhưng cũng không ít sai lệch mơ hồ. Có chuyện kể rằng: vào thời Trần (thế kỷ XIII – XIV) có 3 vị đỗ Thái học sinh (như tiến sĩ triều Lê), được cử đi sứ Bắc quốc (tức Trung Quốc) là Hứa Vĩnh Kiều người Bát Tràng, cùng với Đào Trí Tiến người Thổ Hà và Lưu Phương Tú người Phù Lãng. Ngoài công việc ngoại giao, ba ông này còn học thêm được nghề làm gốm và đem về dạy cho dân quê mình. Do vậy mà làng Bát Tràng chuyên chế các hạng đồ gốm men có sắc trắng, làng Thổ Hà chuyên chế các hạng đồ gốm men có sắc đỏ, còn làng Phù Lãng thì chế các hạng đồ gốm men có sắc vàng thẫm. Rồi lại có một “dị bản” khác nội dung tương tự như vậy, duy chỉ có 2 chi tiết kể khác đi. Đó là thời điểm 3 vị đi sứ vào cuối thời Lý (đầu thế kỷ XIII) và tên vị thứ nhất được kể đến là Hứa Vĩnh Cảo – không phải Hứa Vĩnh Kiều. Câu chuyện này của một nhà nho hiếu sự, chứ sự thật nào phải như vậy. Hứa Vĩnh Kiều chưa bao giờ được người Bát Tràng thờ làm ông tổ nghề hay làm thành hoàng. Văn bia ở Bát Tràng cho biết đình được làm lại, lợp ngói qui mô đồ sộ vào năm Canh Tý, niên hiệu Bảo Thái (1720), chia ra 5 nóc, mỗi nóc thờ khác nhau. Nay ở đình còn giữ được hơn 50 đạo sắc phong cho các thần của các thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Xưa nhất là đạo sắc đời Lê Cảnh Hưng. Đặc biệt có nhiều đạo sắc đời Quang Trung và Cảnh Thịnh, là những di vật vô cùng quí giá cần trân trọng bảo quản và gìn giữ. Nay đình Bát Tràng được trùng tu mới rất khang trang đẹp đẽ.

Còn một truyền thuyết khác đáng chú ý hơn, cho biết: dân làng Bát Tràng vốn từ làng Bồ Bát (ở huyện Yên Mô, Ninh Bình) di chuyển ra Bắc và định cư ở tả ngạn sông Hồng, phía dưới Thăng Long, để tiện chuyên chở nguyên liệu và thành phẩm. Lúc đầu, chỉ có 4 gia đình di cư ra, thuộc các dòng họ Trần, Bùi, Phùng, Vũ cùng với họ Nguyễn sở tại lập thành phường sản xuất đồ gốm, gọi là Bạch Thổ phường. Rồi sau đó lại đổi tên là Bá Tràng phường và cuối cùng chuyển ra tên gọi Bát Tràng ở thế kỷ XIV. Trong đình làng Bát Tràng có đôi câu đối chữ Hán: “Bồ di thủ nghệ khai đình vũ; Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần”. Nghĩa là: “Từ làng Bồ Bát rời nghề cũ ra đây dựng xây đình vũ; Lòng dân thơm ngát hương lan kính tạ thánh thần”.

Câu chuyện này tuy không cho ta biết thời điểm chuyển cư, nhưng qua tài liệu khảo cổ và thư tịch, chúng tôi thấy thời điểm hợp lý xảy ra vào thời Trần. Tài liệu thư tịch cổ cho biết rõ từ nửa sau thế kỷ XIV đã xuất hiện tên gọi xã Bát Tràng trong danh vị hành chính. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép vụ lụt lội xảy ra vào tháng 7 năm Nhâm Thìn, năm thứ 12 niên hiệu Thiệu Phong (1352). Và một sự kiện khác, sách trên chép rằng vào tháng 12 năm Bính Thìn, năm thứ 4 niên hiệu Long Khánh (1376), vua Trần Duệ Tông dẫn đầu đoàn chiến thuyền trong cuộc Nam chinh, xuất phát từ Thăng Long, xuôi theo dòng sông Nhị (sông Hồng) cũng đi qua bến sông xã Bát.

Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh, đất nước ta bước vào thời kỳ xây dựng mới mà nay chính sử gọi là thời Lê Sơ.

Dưới thời Lê Sơ, nghề gốm ở Bát Tràng được khôi phục nhanh chóng trước khí thế mới của đất nước. Trong cuốn sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, soạn xong năm 1435 đã cho ta biết: Trong số đồ cống nạp triều Minh phương Bắc “làng Bát Tràng phải cung ứng 70 bộ bát đĩa”. Kể cũng lạ, vì nước Trung Quốc có nghề làm gốm men phát triển và nổi tiếng thế, vậy mà lại nhận đồ cống bằng gốm men của Đại Việt?

Tiếng nói từ các hiện vật

Để tìm hiểu về nghề gốm Bát Tràng ở các thế kỷ trước, chúng ta còn có thể tìm hiểu qua các vật phẩm lưu giữ ở nước ngoài. Theo các nguồn thông tin về khảo cổ học và bảo tàng, tới nay cho biết 55 bảo tàng trên thế giới sưu tập và lưu giữ không ít đồ gốm cổ Việt Nam như Nhật Bản, Philippin, Pháp, Mỹ, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ… Trong đó chắc chắn còn nhiều tiêu bản có xuất xứ về nơi sản xuất là lò gốm Bát Tràng. Ông John Guy ở bảo tàng Victoria và Albert (nước Anh), một nhà nghiên cứu gốm Việt Nam nổi tiếng đã đi tìm mối quan hệ giao lưu văn hóa