Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Về hai đạo sắc thời Quang Trung

 

Nhân dịp đợt điền dã sưu tầm các loại sắc phong triều Nguyễn, chúng tôi bắt gặp hai đạo sắc dưới thời Quang Trung ở nhà anh Lê Thiện Gia – một nhà sưu tầm trẻ đã rất công phu mới có được. Việc sưu tầm được hai đạo sắc rất quí hiếm dưới thời vua Quang Trung là điều rất may mắn, bởi các văn bản từ thời Quang Trung hầu như còn lại rất hiếm hoi do sau khi lật đổ được triều Tây Sơn, Gia Long đã trả thù rất quyết liệt, nên bách tính không ai dám giữ những đồ vật có liên quan đến Quang Trung. Để tiện cho bạn đọc tham khảo, chúng tôi sau khi khảo cứu văn bản xin giới thiệu hai sắc phong này với một số nhận xét như sau:

  1. Về tình trạng văn bản

Cả hai sắc phong về cơ bản còn giữ nguyên được tình trạng văn bản như ban đầu, mặc dù có bị rách một vài chỗ. Vì cả hai đạo sắc đều được ban vào năm Quang Trung thứ 5 (1792 ), nên để phân biệt chúng tôi gọi theo ngày tháng. Đạo sắc Quang Trung ngày 29.3 dài 1,23m, rộng 50,5cm. Đạo sắc này tuy đã bị rách nhiều chỗ nhưng chủ yếu là phía ngoài rìa nên còn khoảng 85%. Góc trái phía trên rách nhiều nhất, đến gần chữ đầu tiên dòng ghi niên đại, chữ 光  bị rách mất hai nét. Toàn bộ mép ngoài trên sắc phong đều bị rách. Bên góc phải sắc phong rách lỗ mọt cách dòng đầu tiên 14cm, kéo dài xuống 25cm, toàn bộ phần này giấy bị ố màu. Góc phải, trái mép dưới cũng bị rách, nhưng chỉ ở ảnh hưởng phần trang trí  xung quanh.

Nội dung đạo sắc Quang Trung ngày 29.3 còn khá nguyên vẹn, chỉ bị thiếu hai nét của chữ đầu tiên ở dòng ghi niên đại. Tổng số dòng trên sắc phong này là 11 dòng, khoảng cách giữa các dòng theo chiều ngang là 4cm, số chữ nhiều nhất ở mỗi dòng là 23 chữ, ít nhất là một chữ, toàn bộ đạo sắc có 186 chữ.

Đạo sắc Quang Trung ngày 28.7 dài 1,255m, rộng 49,5cm. Đạo sắc này bị rách chút ít ở mép ngoài các góc phải, trái phía trên và mép dưới góc phải, mép ngoài bên phải có bị lỗ mọt. Đạo sắc này được bảo quản khá tốt còn nguyên đến 95%.

Nội dung đạo sắc Quang Trung ngày 28.7 còn nguyên vẹn. Tổng số dòng trên sắc phong này là 15 dòng, khoảng cách giữa các dòng theo chiều ngang hẹp hơn sắc phong ngày 29.3, chỉ rộng 2,3cm, số chữ nhiều nhất ở mỗi dòng là 22 chữ, ít nhất là một chữ, toàn bộ đạo sắc có 264 chữ nhiều hơn sắc phong ngày 29.3 đến 78 chữ.

  1. Về chất liệu giấy và hoa văn trang trí sắc phong

Hai đạo sắc Quang Trung đều được viết trên loại giấy long đằng mềm, dai, màu thổ hoàng (màu vàng đất), đạo sắc ngày 28.7 màu vàng  nhạt hơn, chất giấy mỏng, mịn. Nhìn qua thiết bị chuyên dụng có độ phóng to hơn mắt thường 80 lần thì thấy ở sắc phong ngày 28.7 do được bảo quản tốt nên tại chỗ rách các sợi giấy vẫn bện chặt với nhau tạo thành bề mặt giấy màu vàng tươi. Còn ở sắc phong ngày 29.3 khi nhìn ở chỗ rách thấy rõ từng sợi giấy màu vàng óng ánh xốp, tơi ra trong chùm sợi giấy, không tạo thành mặt giấy phẳng như đạo sắc kia. Màu sắc vàng tươi rất đẹp, khác với màu sắc mà mắt thường nhìn thấy ở cả hai sắc phong.

Phần trang trí trên hai đạo sắc Quang Trung  đều có hình rồng màu xám nhạt nổi trên nền giấy, nhìn bằng mắt thường thấy rất rõ ràng, sắc nét. Tuy nhiên trang trí hình rồng và các hoa văn ở hai sắc phong cũng có những điểm khác nhau. Ở đạo sắc ngày Quang Trung ngày 29.3, tua của đầu rồng chạm vào một góc của dấu ấn triện, đuôi rồng kéo dài đến hàng chữ thứ ba, chân rồng có 4 móng, đầu và chân rồng xuất hiện ở góc trái ngay cạnh dòng ghi niên đại, kéo dài từ chữ 中 cho đến gần cuối chiều ngang sắc phong. Toàn bộ phần thân rồng uốn lượn mềm mại trong lòng sắc văn.  Đường diềm trang trí xung quanh với hồi văn hình kỷ hà. Bốn góc trong đường diềm bổ ô hình ô van trong có 14 ô hình tròn màu xám chì. Mép trên có trang trí hai chữ thọ hình chữ nhật, ô bên trái chính giữa có hai chữ 光  中 (Quang Trung), ô bên phải chính giữa có hai chữ   都 (Sắc Đô). Tại chữ  ở dòng cuối cùng nằm trong ô chữ thọ, bốn góc có 4 ô tròn kích cở cũng bằng chữ thọ, tạo thành môtip ngũ thọ.

Mặt sau đạo sắc này trang trí 4 góc có 4 ô chữ thọ, chính giữa lòng sắc phong cũng bổ một ô chữ thọ, hai đầu là hai cụm dây lá hóa long. Góc trái phía trên có 3 chữ ghi địa danh 定 姥 社 (Định Mỗ xã). Chính giữa rìa bên trái có viết 4 chữ thảo 己  心  付 还  (Kĩ tâm phó hoàn).

Đạo sắc Quang Trung ngày 28.7 đường diềm trang trí xung quanh 3 mặt hình hồi văn kỷ hà rộng 3cm, mặt trái để trống. Bốn góc bổ ô thọ vân hình ô van, chính giữa là 1 ô chữ thọ trên nền mây, xung quanh có thêm 6 ô chữ thọ. Ngay chữ sắc của dòng cuối cùng trang trí một ô ngũ thọ, chữ thọ chính giữa được dùng để viết chữ  . Toàn bộ phía trong lòng sắc phong trang trí chấm tròn màu xám, giữa lòng sắc phong xuất hiện long vân, đầu rồng ở đạo sắc này không chạm đến dấu triện như đạo sắc kia. Đầu rồng và chân rồng xuất hiện ở góc trái ngay cạnh dòng ghi niên đại, bắt đầu từ chữ 中 và chỉ kéo dài đến hết dòng ghi niện đại. Chân rồng có 5 móng, hai bên thân rồng có những giải mây cách điệu theo môtip long ẩn vân.

Mặt sau đạo sắc này trang trí bốn góc 4 ô chữ thọ, một ô chính giữa, xen kẽ là các giải mây. Trong lòng trang trí tứ linh (long, lân, qui, phụng). Diềm bên trái trang trí hình kỷ hà, góc trái phía trên có 4 chữ ghi địa danh良  才  縣  實  洮  社  (Lương Tài huyện, Thật Thao xã). Màu sắc trang trí hình rồng và hoa văn trên hai đạo sắc Quang Trung đều màu xám.

3. Về dấu ấn triện và chữ viết trên sắc phong

Hình dấu triện được đóng trên hai đạo sắc Quang Trung có khác nhau chút ít về khoảng cách. Dấu triện đạo sắc ngày 29.3 được đóng từ mép dưới chữ 五 (ngũ) đến hết chữ 十 (thập) trong dòng niên đại Quang Trung ngũ niên tam nguyệt nhị thập cửu nhật. Mỗi cạnh của dấu triện dài 15cm, dấu có màu đỏ sẩm, ở đạo sắc này màu của dấu triện đỏ tươi hơn. Dấu ấn triện của vua khắc bốn chữ Sắc thụ chi bảo. Dấu triện đóng trên đạo sắc Quang Trung ngày 28.7 cách mép ngoài sắc phong 23,5 cm, dấu được đóng cách mép trên chữ 五(ngũ) 0,8 cm đến quá mép dưới chữ月(nguyệt) 0,8 cm trong dòng niên đại Quang Trung ngũ niên thất nguyệt nhị thập bát nhật.

Toàn bộ hai đạo sắc được viết bằng chữ Hán theo lối chân phương, rõ ràng và sắc nét, dễ đọc. Kiểu chữ viết trên hai đạo sắc Quang Trung và kiểu chữ của các sắc phong dưới thời Nguyễn mà chúng tôi có dịp được tiếp xúc đều giống nhau.

4. Về nội dung của hai đạo sắc Quang Trung

* Đạo sắc Quang Trung năm thứ 5  ngày 29 tháng 3.

Phần chữ Hán

都大城隍碩神雄勇英威大王孟娘窈窕閒公主睿智端和聰明妙感迪哲啟烈肇慶昭應濯靈順謹厚貞淑大王太一鍾英婺星孕秀洋乎如在其上癸育參乾始之功儼然不顯亦臨含弘坤生之化久叶百靈而扶運盍稽三錫以登封為默相國家輿圖一統禮有登秩應加封美字可加封都大城隍碩神雄勇英威豐功懿德大王孟娘窈窕閒端莊淑慎公主睿智端和聰明妙感迪哲啟烈肇慶昭應濯靈順謹厚貞淑徽柔莊静大王故

光中五年三月二十玖日

Phiên âm:

Sắc Đô Đại Thành Hoàng Thạc Thần Hùng Dũng Anh Uy Đại Vương Mạnh Nương Yểu Điệu Bình Nhàn Công Chúa, Duệ Trí Đoan Hòa Thông Minh Diệu Cảm Địch Triết Khải Liệt Triệu Khánh Chiêu Ứng Trạc Linh Cống Thuận Cẩn Hậu Trinh Thục Đại Vương:

Thái nhất chung anh – Vụ tinh dựng tú.

Dương hồ như tại kỳ thượng, quí dục tham Càn thủy chi công,

Nghiễm nhiên bất hiển diệc lâm hàm hoằng tán Khôn sinh chi hóa.

Cửu hiệp bách linh nhi phù vận – Hạp kê tam tích dĩ đăng phong

Vi mặc tướng quốc gia dư đồ nhất thống

Lễ hữu đăng trật ứng gia phong mỹ tự khả gia

Phong

Đô Đại Thành Hoàng Thạc Thần Hùng Dũng Anh Uy Phong Công Ý Đức Đại Vương Mạnh Nương Yểu Điệu Bình Nhàn Đoan Trang Thục Thận Công Chúa Duệ Trí Đoan Hòa Thông Minh Diệu Cảm Địch Triết Khải Liệt Triệu Khánh Chiêu Ứng Trạc Linh Cống Thuận Cẩn Hậu Trinh Thục Huy Nhu Trang Tĩnh Đại Vương

Cố sắc.

Quang Trung ngũ niên tam nguyệt nhị thập cửu nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc cho Đô Đại Thành Hoàng Thạc Thần Hùng Dũng Anh Uy Đại Vương Mạnh Nương Yểu Điệu Bình Nhàn Công Chúa, Duệ Trí Đoan Hòa Thông Minh Diệu Cảm Địch Triết Khải Liệt Triệu Khánh Chiêu Ứng Trạc Linh Cống Thuận Cẩn Hậu Trinh Thục Đại Vương:

Trời đất un đúc tinh anh – nữ lưu dồi dào tú khí

Lớn lao như còn tại đấy, công cùng Trời nuôi dưỡng ban đầu,

Trang trọng hiển hiện chẳng cầu, trợ giúp Đất đổi thay sinh trưởng.

Hợp bách linh[i] mà phò trợ vận nước, sao không lấy tam tích[ii] để tặng phong.

Vì ngầm giúp nhất thống cơ đồ non nước,

Nên lấy Lễ gia phong mỹ tự mà tăng cấp.

Phong là:

Đô Đại Thành Hoàng Thạc Thần Hùng Dũng Anh Uy Phong Công Ý Đức Đại Vương Mạnh Nương Yểu Điệu Bình Nhàn Đoan Trang Thục Thận Công Chúa Duệ Trí Đoan Hòa Thông Minh Diệu Cảm Địch Triết Khải Liệt Triệu Khánh Chiêu Ứng Trạc Linh Cống Thuận Cẩn Hậu Trinh Thục Huy Nhu Trang Tĩnh Đại Vương.

Cho nên ban Sắc này.

Ngày 29 tháng 3 năm Quang Trung thứ 5 (1792).

* Đạo sắc Quang Trung năm thứ 5 ngày 28.7

PhầnchữHán

季都天明灵祐普化扶直顯應佑國彰仁衍慶國綏禄厚德至仁普化豐功扶祚安民雄肇謀佐辟翼善助勝威灵雄容敷慶丕績匡義公正助捷至德神武剛断英毅冲天淳嘉勇烈莊肃恭懿宣慈温和隆勳峻德兼貳位大王鍾神翼墟降秀嘏穰穰奏假名鄉之髫白蒙休精灵濯濯昭清庙之蒸嘗禮護永徵景貺褒崇載錫華章薦皇家輿圖一統禮有登秩應加封美字三字可加封季都天明灵祐普化扶直顯應佑國彰仁衍慶國綏禄厚德至仁普化豐功扶祚安民雄肇謀佐辟翼善助勝威灵雄容敷慶丕績匡義公正助捷至德神武剛断英毅冲天淳嘉勇烈莊肃恭懿宣慈温和隆勳峻德孚佑開玄化兼貳位大王故

光中五年七月二十八日

Phiên âm

Sắc Quí Đô Thiên Minh Linh Hựu Phổ Hóa Phù Trực Hiển Ứng Hựu Quốc Chương Nhân Diễn Khánh Hộ Quốc Tuy Lộc Hậu Đức Chí Nhân Phổ Hóa Phong Công Phù tộ An Dân Hùng Lược Triệu Mưu Tá Tích Dực Thiện Trợ Thắng Uy Linh Hùng Dung Phu Khánh Phỉ Tích Khuông Nghĩa Công Chính Trợ Tiệp Chí Đức Thần Vũ Cương Đoán Anh Nghị Xung Thiên Thuần Gia Dũng Liệt Trang Túc Cung Ý Tuyên Từ  Ôn Hòa Long Huân Tuấn Đức Kiêm Nhị Vị Đại Vương:

Điên thệ chung thàn – Dực khư giáng tú

Tông hỗ nhương nhương tấu giá danh hương chi thiều bạch mông hưu

Tinh linh trạc trạc chiêu khâm thanh miếu chi chưng thường hợp lễ

Bang hộ vĩnh trưng cảnh huống – Bao sùng tải tích hoa chương

Tiến Hoàng gia dư đồ nhất thống,

Lễ hữu đăng trật ứng gia phong

Mỹ tự tam tự khả gia phong

Quí Đô Thiên Minh Linh Hựu Phổ Hóa Phù Trực Hiển Ứng Hựu Quốc Chương Nhân Diễn Khánh Hộ Quốc Tuy Lộc Hậu Đức Chí Nhân Phổ Hóa Phong Công Phù tộ An Dân Hùng Lược Triệu Mưu Tá Tích Dực Thiện Trợ Thắng Uy Linh Hùng Dung Phu Khánh Phỉ Tích Khuông Nghĩa Công Chính Trợ Tiệp Chí Đức Thần Vũ Cương Đoán Anh Nghị Xung Thiên Thuần Gia Dũng Liệt Trang Túc Cung Ý Tuyên Từ Ôn Hòa Long Huân Tuấn Đức Phu Hựu Khai Huyền Tán Hóa Kiêm Nhị Vị Đại Vương. Cố Sắc.

Quang Trung ngũ niên thất nguyệt nhị thập bát nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc cho

Quí Đô Thiên Minh Linh Hựu Phổ Hóa Phù Trực Hiển Ứng Hựu Quốc Chương Nhân Diễn Khánh Hộ Quốc Tuy Lộc Hậu Đức Chí Nhân Phổ Hóa Phong Công Phù tộ An Dân Hùng Lược Triệu Mưu Tá Tích Dực Thiện Trợ Thắng Uy Linh Hùng Dung Phu Khánh Phỉ Tích Khuông Nghĩa Công Chính Trợ Tiệp Chí Đức Thần Vũ Cương Đoán Anh Nghị Xung Thiên Thuần Gia Dũng Liệt Trang Túc Cung Ý Tuyên Từ Ôn Hòa Long Huân Tuấn Đức Kiêm Nhị Vị Đại Vương:

Thần un đúc khắp nơi – Trợ Đất nảy nở xinh tươi,

Gom đầy phước, thôn làng được danh  già trẻ tốt lành,

Đội nhiều ơn, sáng tỏ phép tắc chưng thường[iii] tôn miếu.

Phò trợ nên mãi nêu ban thưởng – Thưởng khen mà kính chép sắc văn.

Giúp Hoàng gia nhất thống cơ đồ – Lễ tăng cấp nên phải gia phong

Đáng gia phong ba mỹ tự

Quí Đô Thiên Minh Linh Hựu Phổ Hóa Phù Trực Hiển Ứng Hựu Quốc Chương Nhân Diễn Khánh Hộ Quốc Tuy Lộc Hậu Đức Chí Nhân Phổ Hóa Phong Công Phù tộ An Dân Hùng Lược Triệu Mưu Tá Tích Dực Thiện Trợ Thắng Uy Linh Hùng Dung Phu Khánh Phỉ Tích Khuông Nghĩa Công Chính Trợ Tiệp Chí Đức Thần Vũ Cương Đoán Anh Nghị Xung Thiên Thuần Gia Dũng Liệt Trang Túc Cung Ý Tuyên Từ Ôn Hòa Long Huân Tuấn Đức Phu Hựu Khai Huyền Tán Hóa Kiêm Nhị Vị Đại Vương.

Cho nên ban sắc phong này.

Ngày 28 tháng 7 Quang Trung năm thứ 5 (1792)[iv].

5. Một vài nhận xét

– Hai đạo sắc Quang Trung còn khá nguyên vẹn, đặc biệt là đạo sắc ngày 28 tháng 7. Nội dung của cả hai đạo sắc đều đọc được rõ ràng, ở đạo sắc ngày 29 tháng 3 ban tặng thêm mỹ tự cho Bình Nhàn công chúa có rách ở chữ  光  (Quang) nhưng vẫn đọc được chỉ thiếu nét, chúng ta có thể khôi phục văn bản dễ dàng.

– Đạo sắc Quang Trung ngày 28.7 tăng cấp ban tặng mỹ tự (những chữ đẹp hay để khen tặng) được ban chỉ trước khi vua Quang Trung mất đúng 1 ngày  ( ông mất ngày 29 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5 nhằm ngày 16.9.1792).

– Dấu ấn triện đóng trên hai đạo sắc Quang Trung theo nhà nghiên cứu Vĩnh Cao là 4 chữ Sắc thụ chi bảo, đây là dấu ấn triện rất hiếm thấy mà các nhà nghiên cứu nhiều về ấn chương cũng chưa thấy nhắc đến. Được biết trước đây tại nhà trưng bày Gốm cổ Gò Sành ở thành phố Qui Nhơn có tiếp nhận một sắc phong Quang Trung năm thứ 5 do bà Nguyễn Thanh Hà -con gái Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng cũng có dấu ấn triện như trên.

– Với phương pháp đối sánh và loại suy, bằng việc tham chiếu với một số đạo sắc thời Nguyễn, chúng tôi nhận thấy một vài điểm giống và khác nhau:

+ Chữ viết trên hai đạo sắc Quang Trung giống với kiểu chữ viết trên các đạo sắc thời Nguyễn, tuy nhiên có 12 chữ : sắc  , bình , cống , tán , hựu , lược , điên , thệ , tông , khâm , hợp , bang  viết khác với cách viết của các sắc phong thời Nguyễn về sau.

+ Cách viết trên hai đạo sắc Quang Trung tương tự với cách viết sắc được qui định dưới triều Nguyễn mà chúng tôi đã tra cứu trong Khâm định Đại nam Hội điển sự lệ (Hội điển) và trên thực tế. Trang giấy viết sắc được chia làm hai, nữa trang giấy trên chia ra làm 13 hàng, nữa trang giấy dưới viết niên hiệu. Tùy theo nội dung có dài ngắn mà định liệu chia số hàng cho vừa.

+ Cách viết chữ số ghi ngày, tháng, năm ở dòng niên đại của hai đạo sắc Quang Trung không thống nhất, hầu hết đều viết theo lối chữ đơn (giản thể) chỉ có một chữ cửu  là viết theo lối chữ kép (phồn thể).

Đây là điểm hoàn toàn khác so với hầu hết sắc phong dưới thời Nguyễn, bởi bắt đầu từ năm Minh Mạng thứ 3 (1822) qui định khi viết sắc phong, tất cả các chữ số ghi ngày, tháng, năm chỗ dòng niên đại đều phải dùng chữ kép để đề phòng sự thay đổi.

+ Giấy viết hai đạo sắc Quang Trung giống với giấy viết sắc đầu thời Gia Long mà chúng tôi sưu tầm được, nhưng khác với loại giấy viết sắc phong từ thời Minh Mạng trở về sau.

Tra cứu trong  Hội điển thì thấy rõ lí do của sự khác nhau này, bởi từ năm Minh Mạng thứ 10 (1829) qui định giấy viết sắc đều dùng giấy vàng tươi, đến thời Tự Đức còn qui định rõ là vẽ rồng bằng bạc. Vì thế các sắc phong thời Nguyễn từ Minh Mạng trở về sau mà chúng tôi được tiếp xúc hầu hết đều dùng giấy màu vàng tươi và cứng hơn nhiều so với loại giấy viết sắc thời Gia Long, trang trí long vân đều màu bạc.

+ Cách đóng dấu ấn triện trên hai đạo sắc Quang Trung về cơ bản giống cách đóng dấu triện trên các sắc phong thời Nguyễn do vua ban (sắc của các Bộ đóng khác), đều bắt đầu sau niên hiệu của vua.

+ Trong hai đạo sắc Quang Trung đều có hai chữ “đại vương” khác với các đạo sắc thời Nguyễn, tra cứu trong Hội điển cho biết, từ năm Minh Mạng thứ 16 trở về sau khi đổi cấp lại thần sắc đều chuẩn đổi hai chữ “đại vương” làm hai chữ “tôn thần”.

+ Kích thước dấu ấn triện đóng trên hai đạo sắc Quang Trung đều giống nhau, mỗi bề 15cm, còn kích thước dấu ấn triện đóng trên các đạo sắc thời Nguyễn nhỏ hơn (13,5cm). Mặc dù tất cả đều là sắc của vua ban và được đóng dấu triện Sắc mệnh chi bảo.

+ Trên hai đạo sắc Quang Trung dòng địa danh nhận sắc được ghi ở phía sau của đạo sắc chỉ có tên xã, huyện, còn các sắc phong thời Nguyễn thường đưa địa danh nơi nhận sắc rất đầy đủ, rõ ràng lên trên.

Hai đạo sắc Quang Trung chúng tôi giới thiệu ở trên đã từng được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử và cách mạng Thừa Thiên Huế nhân kỷ niệm ngày di sản văn hoá Việt nam. Giới thiệu hai sắc phong quí hiếm này, chúng tôi mong muốn cung cấp thêm những tư liệu văn bản còn lại rất ít của thời Quang Trung để góp sức nghiên cứu về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc.

 

[i] chỉ những người đã khuất.

[ii] Chỉ những đồ dùng Thiên tử ban tặng cho Chư  hầu.

[iii] Hai lễ tế vào xuân thu trong năm

[iv] Bản dịch trong bài của Vĩnh Cao.

 

Lê Thị Toán (ThS. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế)

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ