Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Truyền thống văn hóa biển của người Việt cổ những ý tưởng, nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng

 

 Thư mục của GS. Trần Quốc Vượng có 371 công trình, tập trung vào ba lĩnh vực lớn: 1. Lịch sử cổ trung đại Việt Nam; 2. Khảo cổ học; 3. Lịch sử văn hóa – văn hóa học. Từ khoảng đầu thập niên 1980 Giáo sư tập trung nghiên cứu và viết nhiều bài về văn hóa Việt Nam trong bối cảnh văn hóa văn minh châu Á, về diễn trình, đặc tính của các nền văn hóa, không gian văn hóa của các vùng đất, về đời sống và cả những tập tục thói quen của các giai tầng xã hội…

Với biển và đại dương tác giả có nhiều bài khảo cứu chuyên sâu và liên quan về truyền thống biển của Việt Nam. Giáo sư đề xuất những ý tưởng, giải pháp về việc khai thác, phát huy thế mạnh, tiềm năng biển; cách thức thúc đẩy kinh tế, quản lý văn hóa, bảo vệ an ninh biển với các cấp chính quyền trung ương, địa phương.

GS.TS Nguyễn Văn Kim (ĐHKHXH và NV) viết bài: Biển với người Việt cổ – Những ý tưởng, nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng. Bài viết gồm 5 phần: 1. “Lục địa”, “bán đảo” và vị thế của một quốc gia bán đảo; 2. Về cơ tầng văn hóa và truyền thống văn hóa biển; 3. Tiềm năng, truyền thống và những hoạt động kinh tế biển; 4. Biển, thể chế và chính sách; 5. Triển vọng biển, tư duy hướng biển đến tầm nhìn đại dương.

Xưa & Nay trân trọng giới thiệu với bạn đọc phần 2 của bài viết trên.

 

Nhận thức rõ đặc tính và vị trí của biển trong lịch sử hình thành, phát triển của Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu, GS. Trần Quốc Vượng luôn coi truyền thống văn hóa biển, môi trường sinh thái biển là nhân tố hợp thành, tác động và chi phối đời sống văn hóa, cách thức thích nghi, ứng đối văn hóa của các cộng đồng cư dân cổ.

Tiếp nhận truyền thống, tư duy triết học, triết lý phương Đông, đồng thời chia sẻ quan điểm của Carl Gustav Jung về văn hóa, khi coi mỗi biểu tượng, một danh từ, một tên gọi, một hình ảnh hay một đồ vật tuy quen thuộc với cuộc sống nhưng chúng vẫn luôn gợi mở thêm những ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của nó[i]. Từ đó, từ trong chính các truyền thuyết, huyền thoại lịch sử, các bộ sử thi và thông điệp của người xưa, của các phong tục, tập quán truyền thống… tác giả đã lọc ra và đọc ra biết bao hằng số văn hóa, ngôn ngữ, triết lý và cả những ước vọng của tiền nhân về vũ trụ, về sự chuyển vận của không gian, thời gian; về nguồn gốc, môi trường sống, nhịp sống, nhịp sinh học của con người và thế giới vạn vật[ii]… Quảng bác, uyên bác nhiều lĩnh vực chuyên môn, nhưng ở đây, chính trên lĩnh vực văn hóa, mà sâu sắc nhất là địa – văn hóa, tiếng nói của GS. Trần Quốc Vượng luôn giữ vai trò “chủ đạo”, có nhiều ảnh hưởng và “quyền uy” về học thuật[iii].

Bắt đầu luận đề bằng huyền thoại khởi nguyên về thời lập quốc với hình tượng Lạc Long Quân – Âu Cơ, Giáo sư đã phác dựng nên một phổ hệ: Núi – Biển, Mẹ – Bố, và chính các vị Thủy tổ đó đã dẫn các con (có thể hiểu là các lực lượng xã hội, tộc người – NVK) chia nhau đi khai phá các miền đất, mở rộng không gian sinh tồn để rồi đắp xây nên Tổ quốc Việt Nam, đa dạng về cơ sở kinh tế, môi trường sống, cảnh quan văn hóa nhưng thống nhất trong ý niệm, tâm thức về nguồn cội. Trong quá trình khai phá đất đai, mở mang bờ cõi… đã dần hình thành nên hình tượng về một “Người Anh hùng văn hóa (Héros culturel) Việt cổ là từ nước, từ biển mà đi lên, từ Ngư tinh, Hồ tinh và Mộc tinh trên ba không gian văn hóa – xã hội Việt cổ: Miền ven biển, miền châu thổ và miền núi. Đó là Lạc Long Quân”[iv].

Liên hệ với các truyền thuyết của người Mường (về nàng Hưu Ngu – Âu Cơ và Chàng Cá – Long Vương, của cư dân Tày – Thái (Chim/Rắn) và liên hệ rộng ra trong nghiên cứu so sánh với các nền văn hóa ở châu Á – Thái Bình Dương, Giáo sư đã phát hiện thấy những đặc tính chung nhất của cư dân khu vực về sức mạnh nguồn cội của nước, biển và đại dương trong sự định thành những nhân tố đầu tiên, căn bản của các nền văn hóa sinh thành trên lãnh thổ Việt Nam. Các nền văn hóa đó luôn có sự tìm gặp, đan xen, hòa hợp để tạo nên các “không gian xã hội” và “cơ cấu thời gian” của các tộc người Việt cổ[v]. Và, ngay tự thuở bình minh ấy đã có sự giao thoa tộc người, văn hóa mà theo quan điểm của Giáo sư là văn hóa Sa Huỳnh, Champa ở miền Trung (ở giữa hình đất nước), vừa chịu sự tương tác, truyền phát ảnh hưởng vừa giữ vai trò chuyển giao giữa hai không gian văn hóa Bắc – Nam, tức giữa hai nền văn hóa lớn: Đông Sơn (Thăng Long – Đại Việt) với văn hóc Óc Eo – Phù Nam ở vùng Nam Bộ[vi].

Từ cái nhìn so sánh với văn hóa phương Bắc (Đông Bắc Á), Nhà văn hóa học từng nhiều lần cho rằng, nước và yếu tố sông nước luôn là đặc tính chi phối đời sống và làm nên bản sắc văn hóa của cư dân phương Nam (Việt Nam – Đông Nam Á) bởi sự năng động, khả năng thích ứng cao nhưng cũng mạnh mẽ như nước. Từ những chiêm nghiệm về nước, Giáo sư đã đưa ra một định đề quan trọng: “Nếu hiểu văn hóa là cái môi trường được con người thích nghi và biến đổi (man – made environment) thì tính sông nước cần được xem là một đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Các di chỉ từ thời đại đá mới, các bản làng từ đầu thời đại kim khí về sau đều phần lớn phân bổ ở bờ nước: Bờ sông, bờ đầm hay bờ biển”[vii]. Trải qua thời gian, với nhiều sự trải nghiệm, những người làm ruộng ven biển, cư dân vạn chài, buôn bán, vận tải biển cũng luôn hiểu rằng, để canh tác, khai hoang lấn biển, đánh bắt hải sản trên biển… cần phải hiểu thấu quy luật của tự nhiên, của các con nước triều lên xuống[viii]. Như vậy, và chính trong môi trường sống đó, “Người Việt ở miền sông nước gắn trồng trọt với chài lưới và thuyền bè các loại trở thành một phương tiện kỹ thuật giao thông quan trọng. Chiến thuyền được chạm khắc trên trống đồng và chiến tướng họ Đông A (Trần) vẫn quen sinh hoạt trên thuyền”[ix].

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, nước đã chi phối kỹ thuật canh tác, nếp sống, tâm lý và cả các sinh hoạt cộng đồng, văn hóa. Theo đó, Giáo sư đã đưa ra một khái luận quan trọng: “Làm ruộng, trồng lúa thì mối bận tâm hàng đầu cũng là nước. Thủy lợi là biện pháp kỹ thuật hàng đầu mà thủy tai (lũ lụt) cũng là cái hại hàng đầu. Bữa ăn hàng ngày là cơm + rau + thủy sản (cua cá, tôm tép, ếch lươn…). Món ăn đặc sắc, chân chất Việt Nam là món luộc (dùng nước đun sôi mà làm chín)… Thế cho nên, tâm thức người Việt từ rất sớm và hằng xuyên qua “thời gian của người”, không thể không bận lòng vì nước. Thế cho nên, người Việt đã đồng nhất không gian xã hội, cộng đồng lãnh thổ, Tổ quốc của họ… với nước. Và phổ xã hội (spectre social) của họ được mở rộng dần, bắt đầu từ cái nhà – Nhà, qua họ hàng, tới xóm làng tới quốc gia – Nước….”[x].

Trong quá trình kiến lập các nền văn hóa cổ, nước và không gian lớn nhất của nước là biển, không chỉ là nguồn sống, tạo nên môi trường sống mà còn góp phần nối kết các nền văn hóa Việt Nam với khu vực và thế giới đồng thời đem lại sinh lực, động lực phát triển mới cho các nền văn hóa[xi]. Khảo cứu quá trình tiến triển và mối liên hệ giữa các nền văn hóa, Nhà Khảo cổ học cho rằng, văn hóa “Phùng Nguyên giao tiếp với Hạ Long ở ven biển Đông Bắc, với Hoa Lộc ở ven biển Thanh Hóa dẫn tới sự ra đời của Đồng Đậu, với sự nhảy vọt về kỹ thuật luyện kim đồng thau để dẫn đến những bước chuyển lớn về xã hội[xii]. Qua đồ gốm, đồ đá… người ta có thể nhìn thấy rõ, tận mắt, sự hòa hợp giữa sắc thái văn hóa sông biển của cư dân Nam Đảo cổ từ ven biển tiến vào, với sắc thái văn hóa trước núi của những cư dân Nam Á cổ, Tày, Thái cổ từ miền chân núi tiến xuống và hòa hợp với nhau để nảy sinh văn hóa đồng bằng”[xiii].

Dõi theo không gian hình thành và phân bố của văn hóa Đông Sơn, khác với quan điểm cho rằng đó là nền văn hóa hình thành ở vùng châu thổ “tựa núi, tiếp biển”, Nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở vịnh Bái Tử Long di tích Đông Sơn muộn và dấu tích của nền văn hóa này cũng xuất lộ ở vùng Biện Sơn – Hòn Mê, xứ Thanh[xiv]. Qua đường biển và cư dân biển (ngư dân, thương nhân, thủy thủ, những nhà thám hiểm, nhà truyền giáo v.v…), các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể đã khuếch tán, lan tỏa… và cũng từ đó, cùng với những yếu tố văn hóa bản địa, nhân tố nội sinh, các yếu tố ngoại sinh đã thúc đẩy sự ra đời của các nhà nước sớm ở Việt Nam – Đông Nam Á. Không bận tâm với những nhận định về việc “mất lập trường”, “quan điểm”, Giáo sư luôn coi các yếu tố ngoại sinh cũng luôn giữ vai trò trọng yếu. Bởi chính các yếu tố đó đã đem đến nhiều giá trị văn hóa, ý niệm chính trị, xã hội, đức tin tôn giáo và cả những sinh lực phát triển mới cho xã hội Việt Nam, Đông Nam Á. Điều quan trọng là, những ảnh hưởng từ bên ngoài đó, ví như Phật giáo, Bà La Môn giáo, Hindu giáo… từng góp phần tạo nên nhận thức, giá trị chung, sự đồng cảm, tinh thần cộng cảm giữa chủ nhân các nền văn hóa, cộng đồng cư dân khu vực.

Về cuộc sống và sinh hoạt của người Việt xưa, Nhà nghiên cứu văn hóa cũng luôn nhấn mạnh đến truyền thống “Lặn giỏi, bơi tài, thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền” của các lớp cư dân sống ven sông, ven biển. Trong môi trường sống đó, thuyền bè là các phương tiện đi lại, vận chuyển, giao lưu thiết yếu. Từ xa xưa “Giao thông cổ truyền quan trọng nhất là đường nước. Con thuyền các loại là một hình ảnh thân quen của cảnh quan địa lý – nhân văn Việt Nam, với dòng sông và bến nước”[xv]. Vượt lên những mục tiêu, giá trị sử dụng thường ngày, thuyền đã trở thành biểu tượng văn hóa, là vật thiêng gắn bó trọn vẹn với chu trình đời người, được khắc họa sinh động trên các trống đồng, thạp đồng – những di sản văn hóa tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn[xvi]. Đến nay, ở nhiều vùng sông nước, người ta vẫn tổ chức lễ hội biển, hội đua thuyền và biết bao sinh hoạt văn hóa, tâm linh khác gắn liền với nước như nghi lễ: Cầu mưa, Mộc dục, Múa rối nước…

Với những cư dân biển đảo, biển cả và đại dương (biển nước) là nguồn tài nguyên lớn, đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng ẩn tàng không ít thách thức, hiểm nguy. Trong tâm thức của cư dân ven biển và những người đi biển, họ luôn cầu mong có được sự che chở của Thần biển mà vị thần đầu tiên trong huyền thoại văn hóa Việt Nam là Thủy Tinh. Đức Thủy thần là biểu trưng cho quyền lực, sức mạnh của nước, và những trận chiến Sơn Tinh – Thủy Tinh đã gợi nhớ về những ký ức xa xưa, về những đợt biển tiến – biển lùi và những cuộc chuyển cư lớn trong lịch sử Việt Nam. Trong tâm thức của cư dân biển, tục thờ các vị Thần biển, Đức Quan Âm Nam Hải, thờ cá Ông,… dần trở thành tín ngưỡng chung của những người đi biển, thương nhân và những vạn chài. Khảo cứu các di tích dọc theo các triền sông vùng châu thổ sông Hồng – sông Thái Bình và nhiều vùng ven biển, GS. Trần Quốc Vượng đã nhận thấy hiện tượng “thiêng hóa” huyền thoại để tạo nên hình tượng về “Tứ bất tử” trong đức tin của người Việt.

Điều đáng chú ý là, quá trình thiêng hóa ấy gắn với các hoạt động kinh tế, buôn bán, với thời tư duy khai mở và chính sách thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại của vương triều Mạc trong bối cảnh nhiều đoàn thuyền buôn, thám hiểu phương Tây đã xuất hiện ở các vùng biển Việt Nam và châu Á. Nhận định về thế kỷ XVI, Nhà sử học cho rằng: “Đây là một thế kỷ của Dân chài và Thương nghiệp thuyền mảng, một thế kỷ “mở cửa” của Đại Việt buôn bán với nước ngoài cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài”[xvii]. Chính trong thế kỷ bản lề đó, cặp vợ chồng truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (với nhiều chi tiết được đẩy tới thời Hùng Vương), đã được tôn vinh là những người đi buôn biển đầu tiên, bắt đầu được thờ ở nhiều vùng sông nước, duyên hải như Tổ sư nghề buôn và được “đề bạt” là một trong “Tứ bất tử” của người Việt[xviii]. Trong khoảng thời gian đó, Mẫu Liễu Hạnh không chỉ được cư dân vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng – Sơn Nam Hạ tôn thờ mà nhân dân nhiều vùng cũng sùng vọng là “Mẫu cao nhất của các bà Mẫu” (Tối linh chi linh). Thời bấy giờ, trong các mối quan hệ kinh tế và tiếp giao văn hóa rộng lớn, “Mẫu Liễu Hạnh là tổng dung của mọi Mẫu, nữ thần Việt – Chăm, Phật bà Quan Âm và cả hình ảnh Đức mẹ Maria”[xix]. Thánh Mẫu cũng đã trở thành một trong những “Tứ bất tử” uy linh trong tiềm thức và thế giới tâm linh của người Việt.

Trong cách luận giải rất riêng và độc đáo, với cảm quan văn hóa và tư duy liên ngành, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: Lạc Long Quân là tên chữ Hán và là sự “nhân hóa” – rồi cả “phong kiến hóa” của cá chép, rắn nước, thuồng luồng, cá sấu. Tương tự như vậy, Âu Cơ là sự “nhân hóa” của chim, hươu… Những hình tượng động vật được chạm, khắc trên trống đồng, thạp đồng chuyển động vòng quanh mặt trời, ngược chiều kim đồng hồ là sự thể hiện tâm thế lưỡng phân động – tĩnh, đực – cái… của một vũ trụ luận sơ khai của cư dân Việt cổ[xx].

Triển khai phương cách và tri thức nghiên cứu liên ngành kết hợp với phương pháp địa danh học, Giáo sư từng luận giải: Chữ “chử” (trong Chử Đồng Tử) tức là “bến”; địa danh “Cổ Trai”, tên quê hương Mạc Đăng Dung ở cửa biển Kiến An gần Đồ Sơn, Hải Phòng và một thôn làng Cổ Trai ở cảng thị Hội An đều là “tên chữ” của “kẻ chài”. Trong dòng mạch đó, cách gọi của người Việt trước nay về các “mũi”, “hòn”, “đảo” (tao), “hải đảo”, hay “Cù lao” (trong Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré…)… là sự hòa trộn của nhiều ngôn ngữ, truyền thống văn hóa. Trong đó, từ “Cù lao” có gốc từ chữ “Pu-lao”, “Poulo” trong ngôn ngữ của người Mã Lai – Đa đảo. Qua những trải nghiệm thực tế, Giáo sư cho rằng, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có người Bồ Lô (Poulo – Đảo nhân), người Đãn, Bà Lỗ Man v.v… đã trải nhiều đời “chuyên sống ở nước”, tại các “Mường nước”[xxi]. Trong các không gian đó, “Con trai Bồ Lô để tóc dài chấm vai, đẹp như anh chàng Vóc của hòn Trống – Mái  Sầm Sơn, xứ Thanh… nay đã dần dần Việt hóa sâu đậm”[xxii].

Với “cái nhìn xuyên Việt”, thấu hiểu chiều sâu và đặc tính các nền văn hóa định thành nên dân tộc Việt Nam, từ văn hóa Đông Sơn – Văn minh sông Hồng ở phía Bắc, văn hóa Sa Huỳnh  – Champa ở miền Trung đến văn hóa Đồng Nai, Óc Eo – Phù Nam ở Nam Bộ, dựa trên những khảo chứng, khảo nghiệm bản thân và các nghiên cứu của học trò, đồng nghiệp,… Giáo sư đã nhận thấy những tương tác và vai trò to lớn của biển trong các cuộc chuyển giao văn hóa để hình thành nên “một dải văn hóa Nam Đảo (Austronesian) ven bờ biển Đông (từ Ryukyu – Okinawa) đến Đài Loan, Hải Nam, vịnh Bắc Bộ, các đảo gần biển (Hòn Mê, Hòn Ngư, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré – Lý Sơn, Hòn Tre, Bích Đầm, đảo Phú Quý, Hòn Cau, Côn Đảo…”[xxiii].

Là người luôn trăn trở với các vấn đề nghiên cứu, tác giả đã có những suy tư đầy mẫn cảm về sự giao hòa giữa con người với thế giới tự nhiên. Ở đó, nhịp sống, nhịp thời gian đã hòa luyện với những vận động, biến đổi của vũ trụ: “Sóng gió biển vun cát lên cồn, trong khi sông tải phù sa ra biển. Sông và biển phối hợp nhau tạo nên đất nước và ảnh hưởng vào văn hóa, con người”[xxiv]. Theo quy luật của tự nhiên, các dòng sông đều đổ ra biển lớn và chính cũng nhờ có sông mà hồn biển, sức mạnh của biển, sản vật biển có thể chuyển tải, thấm sâu vào đất liền, vào các lớp cư dân sống ở miền châu thổ, núi cao…

Trong các truyền thống văn hóa biển, GS. Trần Quốc Vượng có nhiều trang viết sinh động, giàu đậm những ý tưởng, suy tưởng chuyên môn về truyền thống biển của cư dân Đông Sơn, Sa Huỳnh, Champa và Phù Nam[xxv]. Với cư dân Sa Huỳnh – Chămpa, trong cách nhìn nhận của Giáo sư, đó là những dân tộc (đa tộc) có kinh nghiệm và tri thức phong phú về biển. Họ đã nương theo tự nhiên, dựa vào tự nhiên để tạo nên “Hệ sinh thái nhân văn cồn – bàu”[xxvi]. Họ đã tạo dựng được nền văn hóa rực rỡ với các công trình kiến trúc tôn giáo kỳ vĩ, những kinh đô, cảng thị lớn… Với biển, hẳn là người Chăm đã tích lũy được vốn tri thức phong phú và chỉ riêng phương tiện đi biển họ đã rất nổi tiếng về nghề đóng ghe bầu. Dựa trên các kết quả khảo cứu, tác giả cho rằng: Truyền thống ghe bầu của người Chăm là sự kết hợp giữa truyền thống bản địa với truyền thống Mã Lai, Ấn Độ, Địa Trung Hải. Họ đã đóng ra chiến thuyền, thuyền vận tải có thể chở được 600-700 người và chính phương tiện đi biển có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên và chế độ gió mùa này đã góp phần tạo nên “Thể chế biển Chămpa” trong lịch sử Việt Nam – Đông Nam Á.

Tiếp nối truyền thống biển của cư dân Chămpa, đến thế kỷ XVI-XVII, trong “buổi hồi sinh của các cảng biển miền Trung và Nam Trung Bộ” mối giao lưu kinh tế, văn hóa đã trở nên rộng lớn. Với Đàng Trong, “Hội An (Faifo) với cửa Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại – Thu Bồn trở thành cảng biển lớn nhất của Đàng Trong, Đại Việt. Chính ở Hội An (và Đàng Trong) các giáo sĩ ngoại quốc cùng dân địa phương theo đạo đã sáng tạo chữ Quốc ngữ (tiếng Việt La-tinh hóa) mà ta dùng hiện nay, có lợi cho phát triển văn hóa. Một số người Việt đã đi du học phương Tây, học được một số kỹ thuật Âu châu như nghề làm đồng hồ kéo chuông, đóng tàu biển…”[xxvii].

Luôn gắn liền và là hệ quả tất yếu của các mối giao lưu kinh tế là sự giao hòa xã hội, văn hóa. Hiển nhiên, trong các làn sóng tiếp giao, tiếp biến văn hóa đó, các cảng biển, vùng ven biển luôn là những cửa ngõ đón nhận những vận hội, nhân tố phát triển mới và cả những thách thức đến từ đại dương, từ các thế lực bên ngoài. Với Hội An, một cảng thị, cửa ngõ ở miền Trung: “Sắc thái văn hóa Hội An cũng như xứ Quảng và toàn Nam Trung Bộ là kết quả giao thoa, đan xen và dung hòa giữa hai văn hóa Việt – Chăm. Riêng ở cảng thị quốc tế Hội An, đó còn là kết quả giao thoa đan xen và dung hòa giữa các văn hóa Chăm – Việt – Hoa và một số yếu tố ngoại sinh khác nữa. Hội An đó là một sự hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa vô cùng đa dạng”[xxviii].

Thẳm sâu trong lòng đất của đô thị – cảng ấy, Tác giả đã phân lập và có cái nhìn xuyên tỏ về một hệ tầng văn hóa, đa tầng và mang tính kế thừa để hình thành và tạo nên một dáng vóc của thương cảng quốc tế Hội An. Đó là: Tầng văn hóa Sa Huỳnh, Tầng văn hóa Chămpa và giữa hai tầng văn hóa điển hình ấy là một Tầng giao thoa – kết tinh văn hóa Chămpa sớm và cuối cùng là Tầng văn hóa Chăm – Việt – Hoa hình thành từ thế kỷ XVI[xxix], khi Nguyễn Hoàng vào khai phá đất Thuận Quảng. Và, công cuộc khai phá đầy gian lao, thách thức ấy gắn liền với quyết tâm, tư duy hướng biển của các chúa Nguyễn để tiếp nối và tạo lập nên “Một nền văn hóa cảng thị miền Trung” trải từ thời cổ đại đến trung đại, rồi thời cận hiện đại[xxx]. Là một thể chế biển, chính quyền Đàng Trong đã nỗ lực phát triển và chuyển hóa thành công hoạt động của các cảng Chăm trước đây như Chiêm Cảng, Thị Nại… sang cảng Việt với Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn để tạo dựng nên một hệ thống kinh tế đối ngoại, tạo đà cho sự hưng khởi của các hoạt động bang giao khu vực, quốc tế trong suốt các thế kỷ XVI-XVIII.

Chú thích :

(1). Carl Gustav Jung: Thăm dò tiềm thức, bản dịch, Sài Gòn, 1967, tr.16. Dẫn lại theo Trần Quốc Vượng: Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.51. Có thể tham khảo Carl Gustav Jung: Thăm dò tiềm thức, (Vũ Đình Lưu dịch), Nxb. Tri thức, H., 2007, tr.17.

(2). Khi sử dụng các huyền thoại, truyền thuyết… trong nghiên cứu, GS. Trần Quốc Vượng từng nhắc nhở chúng ta về hiện tượng “xuyên đại” và “thác ngộ thời gian”. Tuy nhiên, qua các huyền thoại, truyền thuyết, thông điệp của người xưa vẫn có thể lọc ra nhiều thông tin khoa học, chất liệu lịch sử, văn hóa đích thực. Theo đó: “Thiết tưởng cũng chẳng có gì là lạ. Nhận thức lịch sử hay lịch sử – nhận thức, bất cứ nước nào cũng đi từ tưởng tượng đến lý trí, từ tư duy thần thoại đến tư duy khoa học”, và “Thời gian thần thoại không phải là thời gian lịch sử. Thời gian thần thoại là thời gian liên đại. Thời gian lịch sử là thời gian lịch đại”. Xem Trần Quốc Vượng: Từ tư duy thần thoại đến tư duy lịch sử, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.264-265.

(3). Tưởng nhớ đến người bạn “đồng tuế, đồng môn và đồng nghiệp”, GS. Phan Huy Lê viết: “GS. Trần Quốc Vượng là một Nhà giáo, một Nhà sử học, một Nhà khảo cổ học, một Nhà văn hóa học, một Nhà Hà Nội học tài năng, có nhiều cống hiến đáng trân trọng, với nhiều tìm tòi, khám phá mang đậm “dấu ấn Trần Quốc Vượng”. Phan Huy Lê: Tưởng nhớ GS. Trần Quốc Vượng, Tạp chí Xưa&Nay, số 242, tr.22. Nhà nghiên cứu văn hóa Đỗ Lai Thúy từng nhận xét: “Trần Quốc Vượng là người có nhiều tiếng nói. Ông thuộc típ bác học quảng văn. Tiếng nói của ông cất lên trong nhiều lĩnh vực: Khảo cổ học, Cổ sử học, Dân tộc học, Tâm lý học, kể cả Tâm lý học chiều sâu, Nghệ thuật học, Văn hóa học… Nhưng không ở đâu, tiếng nói Trần Quốc Vượng chiếm vị trí chủ đạo, nếu không nói là duy nhất, thể hiện toàn bộ con người ông như lĩnh vực địa – văn hóa”. Đỗ Lai Thúy: Người theo nết đất, trong: Khoa Sử và tôi, Sđd, tr.251.

(4). Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam…, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.41.

(5). Trần Quốc Vượng: Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ, trong: Theo dòng lịch sử… Sđd, tr.62-63.

(6). Trần Quốc Vượng: Đất Quảng cái nhìn địa lý – văn hóa và lịch sử, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.450.

(7). Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam…, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.42.

(8). Trần Quốc Vượng: Nam Hạ – Nam Hà dưới cái nhìn địa – văn hóa, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Nxb. Văn hóa Dân tộc – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, H., 1998, tr.219.

(9). Trần Quốc Vượng: Nhìn nhận bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.38-39.

(10). Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.42. Trong bài viết: Sông Nhị – Hồng với Hưng Yên (Một tiếp cận địa – văn hóa), tác giả cho rằng: “Sông Việt Nam từ Núi chảy ra Biển. Từ đó có các khái niệm kép: Non sông, Non nước, Sơn hà, Sơn thủy”. Xem Trần Quốc Vượng: Môi trường, Con người & Văn hóa, Nxb. Văn hóa – Thông tin & Viện Văn hóa, H., 2005, tr.267.

(11). Về vùng văn hóa xứ Thanh, tác giả từng viết: “Ở vùng ven biển Nga Sơn có huyền tích An Tiêm (là người ngoại quốc làm con rể vua Hùng) và sự tích Dưa hấu (Tây qua) cùng việc buôn bán qua đường biển với người nước ngoài từ thời cổ đại”. Xem Trần Quốc Vượng: Xứ Thanh – Vài nét về lịch sử – văn hóa, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.274. Tác giả cũng đã từng có những trang viết sinh động, mẫn cảm về điệu hát Xuân Phả của xứ Thanh thể hiện mối giao lưu văn hóa rộng lớn với phương Tây thế kỷ XVI-XVII.

(12).GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Văn hóa Hoa Lộc (thuộc Hậu Lộc và miền Nam biển xứ Thanh) cho đến nay là nền văn hóa “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam, với các cuốc đá có vai, những đồ gốm có văn in hình vỏ sò, những “con lăn” bằng đất nung với nhiều hoa văn đẹp mắt (để in sáp trên vải chăng – như hoa văn in hình trên vải của người Dao?)”. Xem Trần Quốc Vượng: Xứ Thanh – Vài nét về lịch sử, văn hóa, trong:  Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.272.

(13). Trần Quốc Vượng: Từ huyền tích đến lịch sử (Mấy vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể), trong: Trong cõi, Nxb. Hội Nhà văn, H., 2014, tr.71.

(14). Trần Quốc Vượng: Người Đông Sơn và môi trường sinh thái Đông Sơn, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.222.

(15). Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam…, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.42.

(16). Về loại hình thuyền đầu tiên và tục cầu mưa của người Việt cổ, GS. Trần Quốc Vượng từng có một luận điểm quan trọng: “Trên tang trống đồng có khắc hình thuyền. Thuyền ở trống đồng Ngọc Lũ – như Nguyễn Từ Chi đã phát hiện – rõ ràng là hình rắn nước nằm ngửa há mồm, thân rắn là thân thuyền. Đó là hình tượng sớm nhất của thuyền rồng. Thuyền trên trống Quảng Xương thì rõ ràng là thuyền đua. Và thuyền nào cũng có trống đồng chở theo. Đua thuyền là một phương thức, một lễ thức cầu cúng thần nước, cầu mưa. Ấy là chưa kể chơi kéo co, thừng kéo là biểu tượng loài rắn, tục kéo co cũng gắn liền với nghi lễ cầu mưa”. Xem Trần Quốc Vượng: Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.23.

(17). Trần Quốc Vượng: Mẫu Liễu Hạnh (1557-1577), Trạng Bùng (1528-1613) và Đạo giáo dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử – xã hội Đại Việt thế kỷ XVI-XVII, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.888-889.

(18). Trần Quốc Vượng: Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, trong: Biển với người Việt cổ, Sđd, tr.26.

(19). Trần Quốc Vượng: Mẫu Liễu Hạnh (1557-1577), Trạng Bùng (1528-1613) và Đạo giáo dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử – xã hội Đại Việt thế kỷ XVI-XVII, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.889.

(20). Trần Quốc Vượng: Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng, trong: Theo dòng lịch sử… Sđd, tr.29.

(21). Về nguồn gốc các tộc người ven biển, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Trong kho tàng thần thoại Việt có biểu tượng Ngư Tinh, rõ ràng là ảnh xạ của người Đãn, một cư dân sống rất lâu đời ở vùng vịnh Bắc Bộ và bờ biển Quảng Đông mà nhiều thư tịch Việt Nam, Trung Quốc  nói tới. Hiện nay, họ là người Sán Thín ở vùng biển Quảng Ninh. Đãn, Đản, Thán hay Đài (Đài-ao, tức là người Lê ở Hải Nam) là một khâu trong chuỗi cư dân nói tiếng Mã Lai (Malay-Polynessien hay Indonesien) phân bố ở vùng ven biển và hải đảo Đông Nam Á gồm Cao Sơn tộc ở Đài Loan, người Lê ở Hải Nam, người Thán ở vịnh Bắc Bộ, người Bồ Lô ở vùng biển Thanh- Nghệ – Tĩnh – Bình – Trị – Thiên, người Mã Lai ở bán đảo Mã Lai…, những Người nước “Long hộ”, “Giao nhân”, thạo chèo thuyền, vượt biển”. Xem Trần Quốc Vượng: Đất nước, Con người & Văn minh Việt Nam thời cổ, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.129.

(22). Trần Quốc Vượng: Một cái nhìn địa – văn hóa về xứ Nghệ trong bối cảnh miền Trung, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.285.

(23). Trần Quốc Vượng: Di tích và môi trường, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.183.

(24).Trần Quốc Vượng: Đất Quảng cái nhìn địa lý – văn hóa và lịch sử, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.455.

(25). Về yếu tố biển trong văn hóa Đông Sơn, tác giả nhận xét: “Đông Sơn tuy về bản chất kinh tế – xã hội – văn hóa là nông nghiệp tưới nước – xóm làng – thôn dã nhưng rõ ràng cũng mặn mòi chất biển khơi: có hình tượng thuyền đi biển và cá sấu, có sự giao lưu trống đồng từ nội địa Đông Nam Á Việt cổ tới bán đảo Mã Lai và hải đảo Nam Dương. Trên tảng nền hiện thực đó, đã lưu hành truyền thuyết vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung từ miền đồng bằng trũng Dạ Trạch, xuôi thuyền ra biển, ra hải đảo bán buôn, tu Tiên, tu Phật. Huyền tích An Tiêm và dưa hấu cũng nói lên tích giao lưu ngoài biển khơi của thời đại Đông Sơn, thời đại Hùng Vương mở nước. Với thời đại Đông Sơn, vùng Hải Phòng không chỉ là nơi tụ cư của dân Việt cổ làm ruộng và chài cá mà còn là một cảng khẩu giao lưu kinh tế – văn hóa. Cửa sông Rừng chắc chắn là nơi vào ra của nhiều thuyền biển, lên Bắc, xuống Nam, từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên…”. Xem Trần Quốc Vượng: Hải Phòng nhìn từ thủ đô Hà Nội, trong: Theo dòng lịch sử, Sđd, tr.290.

(26). Trần Quốc Vượng: Về miền Trung – Mấy nét khái quát về nhân học văn hóa, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.294.

Quốc Vượng: Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, trong: Biển với người Việt cổ, Sđd, tr.31. Trần

(27). Trần Quốc Vượng: Vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Hội An, trong: Đô thị cổ Hội An, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1991, tr.61.

(28). Trần Quốc Vượng: Vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Hội An, trong: Đô thị cổ Hội An, Sđd, tr.58-59.

(29). Trần Quốc Vượng: Di tích và môi trường, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.183.

 

[i] Carl Gustav Jung: Thăm dò tiềm thức, bản dịch, Sài Gòn, 1967, tr.16. Dẫn lại theo Trần Quốc Vượng: Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.51. Có thể tham khảo Carl Gustav Jung: Thăm dò tiềm thức, (Vũ Đình Lưu dịch), Nxb. Tri thức, H., 2007, tr.17.

[ii] Khi sử dụng các huyền thoại, truyền thuyết… trong nghiên cứu, GS. Trần Quốc Vượng từng nhắc nhở chúng ta về hiện tượng “xuyên đại” và “thác ngộ thời gian”. Tuy nhiên, qua các huyền thoại, truyền thuyết, thông điệp của người xưa vẫn có thể lọc ra nhiều thông tin khoa học, chất liệu lịch sử, văn hóa đích thực. Theo đó: “Thiết tưởng cũng chẳng có gì là lạ. Nhận thức lịch sử hay lịch sử – nhận thức, bất cứ nước nào cũng đi từ tưởng tượng đến lý trí, từ tư duy thần thoại đến tư duy khoa học”, và “Thời gian thần thoại không phải là thời gian lịch sử. Thời gian thần thoại là thời gian liên đại. Thời gian lịch sử là thời gian lịch đại”. Xem Trần Quốc Vượng: Từ tư duy thần thoại đến tư duy lịch sử, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.264-265.

[iii] Tưởng nhớ đến người bạn “đồng tuế, đồng môn và đồng nghiệp”, GS. Phan Huy Lê viết: “GS. Trần Quốc Vượng là một Nhà giáo, một Nhà sử học, một Nhà khảo cổ học, một Nhà văn hóa học, một Nhà Hà Nội học tài năng, có nhiều cống hiến đáng trân trọng, với nhiều tìm tòi, khám phá mang đậm “dấu ấn Trần Quốc Vượng”. Phan Huy Lê: Tưởng nhớ GS. Trần Quốc Vượng, Tạp chí Xưa & Nay, số 242, tr.22. Nhà nghiên cứu văn hóa Đỗ Lai Thúy từng nhận xét: “Trần Quốc Vượng là người có nhiều tiếng nói. Ông thuộc típ bác học quảng văn. Tiếng nói của Ông cất lên trong nhiều lĩnh vực: Khảo cổ học, Cổ sử học, Dân tộc học, Tâm lý học, kể cả Tâm lý học chiều sâu, Nghệ thuật học, Văn hóa học… Nhưng không ở đâu, tiếng nói Trần Quốc Vượng chiếm vị trí chủ đạo, nếu không nói là duy nhất, thể hiện toàn bộ con người Ông như lĩnh vực địa – văn hóa”. Đỗ Lai Thúy: Người theo nết đất, trong: Khoa Sử và tôi, Sđd, tr.251.

[iv] Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam…, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.41.

[v] Trần Quốc Vượng: Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ, trong: Theo dòng lịch sử… Sđd, tr.62-63.

[vi] Trần Quốc Vượng: Đất Quảng cái nhìn địa lý – văn hóa và lịch sử, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.450.               

[vii] Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam…, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.42.

[viii] Trần Quốc Vượng: Nam Hạ – Nam Hà dưới cái nhìn địa – văn hóa, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Nxb. Văn hóa Dân tộc – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, H., 1998, tr.219.

[ix] Trần Quốc Vượng: Nhìn nhận bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.38-39.

[x] Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.42. Trong bài viết: Sông Nhị – Hồng với Hưng Yên (Một tiếp cận địa – văn hóa), tác giả cho rằng: “Sông Việt Nam từ Núi chảy ra Biển. Từ đó có các khái niệm kép: Non sông, Non nước, Sơn hà, Sơn thủy”. Xem Trần Quốc Vượng: Môi trường, Con người & Văn hóa, Nxb. Văn hóa – Thông tin & Viện Văn hóa, H., 2005, tr.267.

[xi] Về vùng văn hóa xứ Thanh, tác giả từng viết: “ở vùng ven biển Nga Sơn có huyền tích An Tiêm (là người ngoại quốc làm con rể vua Hùng) và sự tích Dưa hấu (Tây qua) cùng việc buôn bán qua đường biển với người nước ngoài từ thời cổ đại”. Xem Trần Quốc Vượng: Xứ Thanh – Vài nét về lịch sử – văn hóa, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.274. Tác giả cũng đã từng có những trang viết sinh động, mẫn cảm về điệu hát Xuân Phả của xứ Thanh thể hiện mối giao lưu văn hóa rộng lớn với phương Tây thế kỷ XVI-XVII.

[xii] GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Văn hóa Hoa Lộc (thuộc Hậu Lộc và miền Nam biển xứ Thanh) cho đến nay là nền văn hóa “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam, với các cuốc đá có vai, những đồ gốm có văn in hình vỏ sò, những “con lăn” bằng đất nung với nhiều hoa văn đẹp mắt (để in sáp trên vải chăng – như hoa văn in hình trên vải của người Dao?)”. Xem Trần Quốc Vượng: Xứ Thanh – Vài nét về lịch sử, văn hóa, trong:  Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.272.

[xiii] Trần Quốc Vượng: Từ huyền tích đến lịch sử (Mấy vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể), trong: Trong cõi, Nxb. Hội Nhà văn, H., 2014, tr.71.

[xiv] Trần Quốc Vượng: Người Đông Sơn và môi trường sinh thái Đông Sơn, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.222.

[xv] Trần Quốc Vượng: Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam…, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.42.

[xvi] Về loại hình thuyền đầu tiên và tục cầu mưa của người Việt cổ, GS. Trần Quốc Vượng từng có một luận điểm quan trọng: “Trên tang trống đồng có khắc hình thuyền. Thuyền ở trống đồng Ngọc Lũ – như Nguyễn Từ Chi đã phát hiện – rõ ràng là hình rắn nước nằm ngửa há mồm, thân rắn là thân thuyền. Đó là hình tượng sớm nhất của thuyền rồng. Thuyền trên trống Quảng Xương thì rõ ràng là thuyền đua. Và thuyền nào cũng có trống đồng chở theo. Đua thuyền là một phương thức, một lễ thức cầu cúng thần nước, cầu mưa. Ấy là chưa kể chơi kéo co, thừng kéo là biểu tượng loài rắn, tục kéo co cũng gắn liền với nghi lễ cầu mưa”. Xem Trần Quốc Vượng: Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.23.

[xvii] Trần Quốc Vượng: Mẫu Liễu Hạnh (1557-1577), Trạng Bùng (1528-1613) và Đạo giáo dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử – xã hội Đại Việt thế kỷ XVI-XVII, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.888-889.

[xviii] Trần Quốc Vượng: Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, trong: Biển với người Việt cổ, Sđd, tr.26.

[xix] Trần Quốc Vượng: Mẫu Liễu Hạnh (1557-1577), Trạng Bùng (1528-1613) và Đạo giáo dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử – xã hội Đại Việt thế kỷ XVI-XVII, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.889.

[xx] Trần Quốc Vượng: Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng, trong: Theo dòng lịch sử… Sđd, tr.29.

[xxi] Về nguồn gốc các tộc người ven biển, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Trong kho tàng thần thoại Việt có biểu tượng Ngư Tinh, rõ ràng là ảnh xạ của người Đãn, một cư dân sống rất lâu đời ở vùng vịnh Bắc Bộ và bờ biển Quảng Đông mà nhiều thư tịch Việt Nam, Trung Quốc  nói tới. Hiện nay, họ là người Sán Thín ở vùng biển Quảng Ninh. Đãn, Đản, Thán hay Đài (Đài-ao, tức là người ở Hải Nam) là một khâu trong chuỗi cư dân nói tiếng Mã Lai (Malay-Polynessien hay Indonesien) phân bố ở vùng ven biển và hải đảo Đông Nam Á gồm Cao Sơn tộc ở Đài Loan, người ở Hải Nam, người Thán ở vịnh Bắc Bộ, người Bồ Lô ở vùng biển Thanh- Nghệ – Tĩnh – Bình – Trị – Thiên, người Mã Lai ở bán đảo Mã Lai…, những Người nước “Long hộ”, “Giao nhân”, thạo chèo thuyền, vượt biển”. Xem Trần Quốc Vượng: Đất nước, Con người & Văn minh Việt Nam thời cổ, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.129.

[xxii] Trần Quốc Vượng: Một cái nhìn địa – văn hóa về xứ Nghệ trong bối cảnh miền Trung, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.285.

[xxiii] Trần Quốc Vượng: Di tích và môi trường, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.183.

[xxiv] Trần Quốc Vượng: Đất Quảng cái nhìn địa lý – văn hóa và lịch sử, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.455.

[xxv] Về yếu tố biển trong văn hóa Đông Sơn, tác giả nhận xét: “Đông Sơn tuy về bản chất kinh tế – xã hội – văn hóa là nông nghiệp tưới nước – xóm làng – thôn dã nhưng rõ ràng cũng mặn mòi chất biển khơi: có hình tượng thuyền đi biển và cá sấu, có sự giao lưu trống đồng từ nội địa Đông Nam Á Việt cổ tới bán đảo Mã Lai và hải đảo Nam Dương. Trên tảng nền hiện thực đó, đã lưu hành truyền thuyết vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung từ miền đồng bằng trũng Dạ Trạch, xuôi thuyền ra biển, ra hải đảo bán buôn, tu Tiên, tu Phật. Huyền tích An Tiêm và dưa hấu cũng nói lên tích giao lưu ngoài biển khơi của thời đại Đông Sơn, thời đại Hùng Vương mở nước. Với thời đại Đông Sơn, vùng Hải Phòng không chỉ là nơi tụ cư của dân Việt cổ làm ruộng và chài cá mà còn là một cảng khẩu giao lưu kinh tế – văn hóa. Cửa sông Rừng chắc chắn là nơi vào ra của nhiều thuyền biển, lên Bắc, xuống Nam, từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên…”. Xem Trần Quốc Vượng: Hải Phòng nhìn từ thủ đô Hà Nội, trong: Theo dòng lịch sử, Sđd, tr.290.

[xxvi] Trần Quốc Vượng: Về miền Trung – Mấy nét khái quát về nhân học văn hóa, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.294.

[xxvii] Quốc Vượng: Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, trong: Biển với người Việt cổ, Sđd, tr.31. Trần

[xxviii] Trần Quốc Vượng: Vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Hội An, trong: Đô thị cổ Hội An, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1991, tr.61.

[xxix] Trần Quốc Vượng: Vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Hội An, trong: Đô thị cổ Hội An, Sđd, tr.58-59.

[xxx] Trần Quốc Vượng: Di tích và môi trường, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.183.

 

 Nguyễn Văn Kim

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ