Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Truyền thống văn hóa biển của người Việt cổ những ý tưởng, nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng

 

 

(Tiếp theo số 470 và hết)

Điều đáng chú ý là, quá trình thiêng hóa ấy gắn với các hoạt động kinh tế, buôn bán, với thời tư duy khai mở và chính sách thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại của vương triều Mạc trong bối cảnh nhiều đoàn thuyền buôn, thám hiểu phương Tây đã xuất hiện ở các vùng biển Việt Nam và châu Á. Nhận định về thế kỷ XVI, Nhà sử học cho rằng: “Đây là một thế kỷ của Dân chài và Thương nghiệp thuyền mảng, một thế kỷ “mở cửa” của Đại Việt buôn bán với nước ngoài cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài”[i]. Chính trong thế kỷ bản lề đó, cặp vợ chồng truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (với nhiều chi tiết được đẩy tới thời Hùng Vương), đã được tôn vinh là những người đi buôn biển đầu tiên, bắt đầu được thờ ở nhiều vùng sông nước, duyên hải như Tổ sư nghề buôn và được “đề bạt” là một trong “Tứ bất tử” của người Việt[ii]. Trong khoảng thời gian đó, Mẫu Liễu Hạnh không chỉ được cư dân vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng – Sơn Nam Hạ tôn thờ mà nhân dân nhiều vùng cũng sùng vọng là “Mẫu cao nhất của các bà Mẫu” (Tối linh chi linh). Thời bấy giờ, trong các mối quan hệ kinh tế và tiếp giao văn hóa rộng lớn, “Mẫu Liễu Hạnh là tổng dung của mọi Mẫu, nữ thần Việt – Chăm, Phật bà Quan Âm và cả hình ảnh Đức mẹ Maria”[iii]. Thánh Mẫu cũng đã trở thành một trong những “Tứ bất tử” uy linh trong tiềm thức và thế giới tâm linh của người Việt.

Trong cách luận giải rất riêng và độc đáo, với cảm quan văn hóa và tư duy liên ngành, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: Lạc Long Quân là tên chữ Hán và là sự “nhân hóa” – rồi cả “phong kiến hóa” của cá chép, rắn nước, thuồng luồng, cá sấu. Tương tự như vậy, Âu Cơ là sự “nhân hóa” của chim, hươu… Những hình tượng động vật được chạm, khắc trên trống đồng, thạp đồng chuyển động vòng quanh mặt trời, ngược chiều kim đồng hồ là sự thể hiện tâm thế lưỡng phân động – tĩnh, đực – cái… của một vũ trụ luận sơ khai của cư dân Việt cổ[iv].

Triển khai phương cách và tri thức nghiên cứu liên ngành kết hợp với phương pháp địa danh học, Giáo sư từng luận giải: Chữ “chử” (trong Chử Đồng Tử) tức là “bến”; địa danh “Cổ Trai”, tên quê hương Mạc Đăng Dung ở cửa biển Kiến An gần Đồ Sơn, Hải Phòng và một thôn làng Cổ Trai ở cảng thị Hội An đều là “tên chữ” của “kẻ chài”. Trong dòng mạch đó, cách gọi của người Việt trước nay về các “mũi”, “hòn”, “đảo” (tao), “hải đảo”, hay “Cù lao” (trong Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré…)… là sự hòa trộn của nhiều ngôn ngữ, truyền thống văn hóa. Trong đó, từ “Cù lao” có gốc từ chữ “Pu-lao”, “Poulo” trong ngôn ngữ của người Mã Lai – Đa đảo. Qua những trải nghiệm thực tế, Giáo sư cho rằng, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có người Bồ Lô (Poulo – Đảo nhân), người Đãn, Bà Lỗ Man v.v… đã trải nhiều đời “chuyên sống ở nước”, tại các “Mường nước”[v]. Trong các không gian đó, “Con trai Bồ Lô để tóc dài chấm vai, đẹp như anh chàng Vóc của hòn Trống – Mái  Sầm Sơn, xứ Thanh… nay đã dần dần Việt hóa sâu đậm”[vi].

Với “cái nhìn xuyên Việt”, thấu hiểu chiều sâu và đặc tính các nền văn hóa định thành nên dân tộc Việt Nam, từ văn hóa Đông Sơn – Văn minh sông Hồng ở phía Bắc, văn hóa Sa Huỳnh  – Champa ở miền Trung đến văn hóa Đồng Nai, Óc Eo – Phù Nam ở Nam Bộ, dựa trên những khảo chứng, khảo nghiệm bản thân và các nghiên cứu của học trò, đồng nghiệp,… Giáo sư đã nhận thấy những tương tác và vai trò to lớn của biển trong các cuộc chuyển giao văn hóa để hình thành nên “một dải văn hóa Nam Đảo (Austronesian) ven bờ biển Đông (từ Ryukyu – Okinawa) đến Đài Loan, Hải Nam, vịnh Bắc Bộ, các đảo gần biển (Hòn Mê, Hòn Ngư, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré – Lý Sơn, Hòn Tre, Bích Đầm, đảo Phú Quý, Hòn Cau, Côn Đảo…”[vii].

Là người luôn trăn trở với các vấn đề nghiên cứu, tác giả đã có những suy tư đầy mẫn cảm về sự giao hòa giữa con người với thế giới tự nhiên. Ở đó, nhịp sống, nhịp thời gian đã hòa luyện với những vận động, biến đổi của vũ trụ: “Sóng gió biển vun cát lên cồn, trong khi sông tải phù sa ra biển. Sông và biển phối hợp nhau tạo nên đất nước và ảnh hưởng vào văn hóa, con người”[viii]. Theo quy luật của tự nhiên, các dòng sông đều đổ ra biển lớn và chính cũng nhờ có sông mà hồn biển, sức mạnh của biển, sản vật biển có thể chuyển tải, thấm sâu vào đất liền, vào các lớp cư dân sống ở miền châu thổ, núi cao…

Trong các truyền thống văn hóa biển, GS. Trần Quốc Vượng có nhiều trang viết sinh động, giàu đậm những ý tưởng, suy tưởng chuyên môn về truyền thống biển của cư dân Đông Sơn, Sa Huỳnh, Champa và Phù Nam[ix]. Với cư dân Sa Huỳnh – Chămpa, trong cách nhìn nhận của Giáo sư, đó là những dân tộc (đa tộc) có kinh nghiệm và tri thức phong phú về biển. Họ đã nương theo tự nhiên, dựa vào tự nhiên để tạo nên “Hệ sinh thái nhân văn cồn – bàu”[x]. Họ đã tạo dựng được nền văn hóa rực rỡ với các công trình kiến trúc tôn giáo kỳ vĩ, những kinh đô, cảng thị lớn… Với biển, hẳn là người Chăm đã tích lũy được vốn tri thức phong phú và chỉ riêng phương tiện đi biển họ đã rất nổi tiếng về nghề đóng ghe bầu. Dựa trên các kết quả khảo cứu, tác giả cho rằng: Truyền thống ghe bầu của người Chăm là sự kết hợp giữa truyền thống bản địa với truyền thống Mã Lai, Ấn Độ, Địa Trung Hải. Họ đã đóng ra chiến thuyền, thuyền vận tải có thể chở được 600-700 người và chính phương tiện đi biển có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên và chế độ gió mùa này đã góp phần tạo nên “Thể chế biển Chămpa” trong lịch sử Việt Nam – Đông Nam Á.

Tiếp nối truyền thống biển của cư dân Chămpa, đến thế kỷ XVI-XVII, trong “buổi hồi sinh của các cảng biển miền Trung và Nam Trung Bộ” mối giao lưu kinh tế, văn hóa đã trở nên rộng lớn. Với Đàng Trong, “Hội An (Faifo) với cửa Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại – Thu Bồn trở thành cảng biển lớn nhất của Đàng Trong, Đại Việt. Chính ở Hội An (và Đàng Trong) các giáo sĩ ngoại quốc cùng dân địa phương theo đạo đã sáng tạo chữ Quốc ngữ (tiếng Việt La-tinh hóa) mà ta dùng hiện nay, có lợi cho phát triển văn hóa. Một số người Việt đã đi du học phương Tây, học được một số kỹ thuật Âu châu như nghề làm đồng hồ kéo chuông, đóng tàu biển…”[xi].

Luôn gắn liền và là hệ quả tất yếu của các mối giao lưu kinh tế là sự giao hòa xã hội, văn hóa. Hiển nhiên, trong các làn sóng tiếp giao, tiếp biến văn hóa đó, các cảng biển, vùng ven biển luôn là những cửa ngõ đón nhận những vận hội, nhân tố phát triển mới và cả những thách thức đến từ đại dương, từ các thế lực bên ngoài. Với Hội An, một cảng thị, cửa ngõ ở miền Trung: “Sắc thái văn hóa Hội An cũng như xứ Quảng và toàn Nam Trung Bộ là kết quả giao thoa, đan xen và dung hòa giữa hai văn hóa Việt – Chăm. Riêng ở cảng thị quốc tế Hội An, đó còn là kết quả giao thoa đan xen và dung hòa giữa các văn hóa Chăm – Việt – Hoa và một số yếu tố ngoại sinh khác nữa. Hội An đó là một sự hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa vô cùng đa dạng”[xii].

Thẳm sâu trong lòng đất của đô thị – cảng ấy, Tác giả đã phân lập và có cái nhìn xuyên tỏ về một hệ tầng văn hóa, đa tầng và mang tính kế thừa để hình thành và tạo nên một dáng vóc của thương cảng quốc tế Hội An. Đó là: Tầng văn hóa Sa Huỳnh, Tầng văn hóa Chămpa và giữa hai tầng văn hóa điển hình ấy là một Tầng giao thoa – kết tinh văn hóa Chămpa sớm và cuối cùng là Tầng văn hóa Chăm – Việt – Hoa hình thành từ thế kỷ XVI[xiii], khi Nguyễn Hoàng vào khai phá đất Thuận Quảng. Và, công cuộc khai phá đầy gian lao, thách thức ấy gắn liền với quyết tâm, tư duy hướng biển của các chúa Nguyễn để tiếp nối và tạo lập nên “Một nền văn hóa cảng thị miền Trung” trải từ thời cổ đại đến trung đại, rồi thời cận hiện đại[xiv]. Là một thể chế biển, chính quyền Đàng Trong đã nỗ lực phát triển và chuyển hóa thành công hoạt động của các cảng Chăm trước đây như Chiêm Cảng, Thị Nại… sang cảng Việt với Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn để tạo dựng nên một hệ thống kinh tế đối ngoại, tạo đà cho sự hưng khởi của các hoạt động bang giao khu vực, quốc tế trong suốt các thế kỷ XVI-XVIII.

 

Chú thích:

[i] Trần Quốc Vượng: Mẫu Liễu Hạnh (1557-1577), Trạng Bùng (1528-1613) và Đạo giáo dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử – xã hội Đại Việt thế kỷ XVI-XVII, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.888-889.

[ii] Trần Quốc Vượng: Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, trong: Biển với người Việt cổ, Sđd, tr.26.

[iii] Trần Quốc Vượng: Mẫu Liễu Hạnh (1557-1577), Trạng Bùng (1528-1613) và Đạo giáo dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử – xã hội Đại Việt thế kỷ XVI-XVII, trong: Văn hóa Việt Nam…, Sđd, tr.889.

[iv] Trần Quốc Vượng: Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng, trong: Theo dòng lịch sử… Sđd, tr.29.

[v] Về nguồn gốc các tộc người ven biển, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Trong kho tàng thần thoại Việt có biểu tượng Ngư Tinh, rõ ràng là ảnh xạ của người Đãn, một cư dân sống rất lâu đời ở vùng vịnh Bắc Bộ và bờ biển Quảng Đông mà nhiều thư tịch Việt Nam, Trung Quốc  nói tới. Hiện nay, họ là người Sán Thín ở vùng biển Quảng Ninh. Đãn, Đản, Thán hay Đài (Đài-ao, tức là người ở Hải Nam) là một khâu trong chuỗi cư dân nói tiếng Mã Lai (Malay-Polynessien hay Indonesien) phân bố ở vùng ven biển và hải đảo Đông Nam Á gồm Cao Sơn tộc ở Đài Loan, người ở Hải Nam, người Thán ở vịnh Bắc Bộ, người Bồ Lô ở vùng biển Thanh- Nghệ – Tĩnh – Bình – Trị – Thiên, người Mã Lai ở bán đảo Mã Lai…, những Người nước “Long hộ”, “Giao nhân”, thạo chèo thuyền, vượt biển”. Xem Trần Quốc Vượng: Đất nước, Con người & Văn minh Việt Nam thời cổ, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.129.

[vi] Trần Quốc Vượng: Một cái nhìn địa – văn hóa về xứ Nghệ trong bối cảnh miền Trung, trong: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, Sđd, tr.285.

[vii] Trần Quốc Vượng: Di tích và môi trường, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.183.

[viii] Trần Quốc Vượng: Đất Quảng cái nhìn địa lý – văn hóa và lịch sử, trong: Theo dòng lịch sử…, Sđd, tr.455.

[ix] Về yếu tố biển trong văn hóa Đông Sơn, tác giả nhận xét: “Đông Sơn tuy về bản chất kinh tế – xã hội – văn hóa là nông nghiệp tưới nước – xóm làng – thôn dã nhưng rõ ràng cũng mặn mòi chất biển khơi: có hình tượng thuyền đi biển và cá sấu, có sự giao lưu trống đồng từ nội địa Đông Nam Á Việt cổ tới bán đảo Mã Lai và hải đảo Nam Dương. Trên tảng nền hiện thực đó, đã lưu hành truyền thuyết vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung từ miền đồng bằng trũng Dạ Trạch, xuôi thuyền ra biển, ra hải đảo bán buôn, tu Tiên, tu Phật. Huyền tích An Tiêm và dưa hấu cũng nói lên tích giao lưu ngoài biển khơi của thời đại Đông Sơn, thời đại Hùng Vương mở nước. Với thời đại Đông Sơn, vùng Hải Phòng không chỉ là nơi tụ cư của dân Việt cổ làm ruộng và chài cá mà còn là một cảng khẩu giao lưu kinh tế – văn hóa. Cửa sông Rừng chắc chắn là nơi vào ra của nhiều thuyền biển, lên Bắc, xuống Nam, từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên…”. Xem Trần Quốc Vượng: Hải Phòng nhìn từ thủ đô Hà Nội, trong: Theo dòng lịch sử, Sđd, tr.290.

[x] Trần Quốc Vượng: Về miền Trung – Mấy nét khái quát về nhân học văn hóa, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.294.

[xi] Quốc Vượng: Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, trong: Biển với người Việt cổ, Sđd, tr.31. Trần

[xii] Trần Quốc Vượng: Vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Hội An, trong: Đô thị cổ Hội An, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1991, tr.61.

[xiii] Trần Quốc Vượng: Vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Hội An, trong: Đô thị cổ Hội An, Sđd, tr.58-59.

[xiv] Trần Quốc Vượng: Di tích và môi trường, trong: Môi trường, Con người & Văn hóa, Sđd, tr.183.

 

NGUYỄN VĂN KIM

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ