Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Trao đổi xung quanh nhân vật lịch sử Trần Cao Vân

 

Trần Cao Vân là vị minh chủ của cuộc khởi nghĩa năm Canh Tý (1900) ở Phú Yên. Do tác động của thuyết Trung Thiên Đồ, ông bị chính quyền thuộc địa đương thời kết án lưu đày Côn Đảo cùng với các chí sĩ hoạt động trong phong trào Duy Tân năm 1908. Với vụ biến năm 1916, ông là lãnh tụ trung gian kết nối giữa Hội Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ với các lực lượng ái quốc do Hoàng đế Duy Tân đại diện. Chung cục, Trần Cao Vân là một trong những chí sĩ Cần vương kiên định và nhiệt huyết nhất trong phong trào dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu XX.

Những năm gần đây, với việc phát hiện, biên dịch và xuất bản một số tư liệu mới về thời kỳ lịch sử trung – cận đại Việt Nam, hành trạng cùng những biến cố sự kiện liên quan đến các nhân vật lịch sử cùng thời cũng dần dần được sáng tỏ, trong đó có nhân vật Trần Cao Vân với các phong trào dân tộc chủ nghĩa mà ông chủ xướng hoặc tham gia.

Nhân đọc bài viết Chí sĩ Trần Cao Vân của tác giả Sơn Bình, đăng tải trên Tạp chí Xưa & Nay, số 470 (4.2016), chúng tôi mạn phép trình bày một vài ý kiến trao đổi và đề xuất như sau.

  1. Về cuộc Khởi nghĩa Võ Trứ ở Phú Yên, tác giả Sơn Bình diễn giải: “Võ Trứ… lãnh đạo dân chúng bạo động khởi nghĩa vào mùa hè năm Mậu Tuất (1898)… Nhà cầm quyền chỉ nghi cụ Cao Vân là ‘Chánh Minh’ và là quân sư của cuộc bạo động ấy, nhưng không đủ bằng cớ để kết án”(1).

Phong trào cách mạng đầu tiên mà Trần Cao Vân đứng ra vận động là cuộc khởi nghĩa năm 1900 tại Phú Yên, thường được lịch sử gọi là Khởi nghĩa Võ Trứ hoặc Khởi nghĩa Võ Trứ  – Trần Cao Vân. Do vai trò của ông bí mật nằm sau hậu trướng, hơn nữa vị trí chỉ huy tiên phong cùng cái chết có phần nổi tiếng của Võ Trứ đã khiến tên tuổi Trần Cao Vân lùi xuống hàng thứ yếu.

Tuy nhiên, Trần Cao Vân mới đích thực là linh hồn của cuộc khởi nghĩa này, với ngọn cờ Cần vương mà ông cùng Võ Trứ giương cao. Tài liệu của Sử quán triều Nguyễn cho biết tính chất của sự kiện thông qua diễn tiến như sau: “Gian tăng Võ Trứ dấy loạn (… Tháng trước tỉnh Phú Yên phái quân tìm kiếm được một quả ấn đồng trong khắc sáu chữ ‘Đại Hóa quốc chủ tể ấn’, lại thấy một lá cờ vải đỏ treo ở cột điện, trong viết ‘Nam triều ta có một danh tướng xuất hiện ở xứ Bàn Thạch, Tây Dương các người cứ dốc cả nước kéo tới mà tấn công. Ngày 16 tháng này [tháng 4 năm Canh Tý (1900)] đảng ấy khoảng 300 người đều cầm gậy gộc ngầm tới thôn Triều Sơn huyện Đồng Xuân gần Tòa sứ tỉnh ấy, lính tập đuổi bắn đảng ấy chạy tan, lấy được một lá cờ vải đỏ trong viết ‘Chủ tể Minh Tề nước Đại Hóa, Dấy binh nhung phù tá thánh vương. Ngày 16 tháng 4 năm Minh Tề thứ 1’…)”(2).

Đại Hóa từng là quốc hiệu mà trong lúc vận nước suy vi bởi các trở lực nội loạn và ngoại xâm, Hoàng đế Tự Đức đem ra bàn luận với Triều đình có nên thay đổi. Châu bản đề ngày 7 tháng 12 Tự Đức tam thập niên (năm Tự Đức thứ 30/1877) chép lại sự việc vắn tắt: “Viện cơ mật góp ý kiến về vấn đề đổi quốc hiệu, lấy quốc hiệu là Đại Hóa (dựa theo tên hai tỉnh Thanh Hóa và Thuận Hóa) cũng được, nhưng trước khi cải quốc hiệu phải thông báo cho các nước Pháp, Y [Y Pha Nho, tức Tây Ban Nha] và Trung Quốc biết”(3). Sang mùa xuân năm sau, vấn đề quốc hiệu được tái thảo luận và chung cục như sau: “Vua bàn lấy hai chữ Đại Hưng hoặc Đại Hóa để đổi đặt quốc hiệu. Cơ mật viện đại thần tâu nói: chữ Hưng tuy tốt nhưng xét đến sự thực thì chưa đủ, chữ Hóa đã gồm cả gốc trước, lại hợp với tiếng Nam, tưởng làm thỏa đáng duy có hiện nay nhiều việc lòng người dễ dao động, nếu một khi trái đi, thói đời thấy nói sai, sợ không ngăn được, xin đợi khi nào ít việc sẽ thi hành. Vua cho là phải, rồi không quả quyết đổi”(4).

Từ đó, Khởi nghĩa Võ Trứ – Trần Cao Vân mang tính chất Cần vương thực sự. Nếu Võ Trứ đóng vai trò một danh tướng theo như lời thách đấu với quân Pháp nói trên, Trần Cao Vân phải đứng ở vị trí trung tâm Chủ tể Minh Tề với vai trò minh chủ nắm quyền lực tối cao, trong khi Thánh vương ý chỉ Hoàng đế Tự Đức hay triều đại nhà Nguyễn nói chung với những hoàng đế sáng danh từ Tự Đức trở ngược đến Gia Long(5).

Có hai kết luận từ đây :

Thứ nhất, Niên đại cho cuộc Khởi nghĩa Võ Trứ – Trần Cao Vân là năm Canh Tý hay Thành Thái thứ 12 (1900), không phải năm Mậu Tuất hay Thành Thái thứ 10 (1898) theo Cụ Trần Cao Vân của Hành Sơn, Nhân vật Bình Định của Lộc Xuyên Đặng Qúy Địch hay như Chí sĩ Trần Cao Vân của Sơn Bình.

Thứ hai, Thông thường trước nay tên gọi các cuộc khởi nghĩa được đặt theo tên người khởi xướng hoặc địa danh chọn đặt đại bản doanh, địa bàn hoạt động. Bởi vậy, cần gọi đúng tên cuộc khởi nghĩa là Khởi nghĩa Trần Cao Vân – Võ Trứ hay Khởi nghĩa Sông Cầu/Khởi nghĩa Phú Yên.

  1. Liên quan đến cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên, Trần Cao Vân sau đó đã bị liên chính quyền Pháp – Nam truy nã. Việc Võ Trứ nhận lãnh tất cả trách nhiệm về mình đã cứu Trần Cao Vân thoát khỏi án chém. Châu bản trong phong trào Duy Tân năm 1908 cho biết Trần Cao Vân mang tiền án cùng tân án như sau: “Ngày 24 tháng 12 năm Duy Tân thứ 2 [15.1.1909]… Phủ Phụ chính chúng thần đẳng tấu: ngày tháng 8 năm nay, tiếp lãnh Tổng đốc Bình Định thần Bùi Xuân Huyến khâm đệ bản án như sau: Trần Cao Vân, (ấp Đông, xã Tư Phú, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), năm trước đến tỉnh Phú Yên giảng thuyết Trung Thiên Đồ, kế vì xảy ra việc treo cờ nã được, án xử tội đày (khổ sai 9 năm), mãn hạn về không biết an phận. Năm ngoái (1907) còn dám lén đến hạt ấy, lén trú tại nhà của Nhữ Doanh, tụ hội đông người giảng thuyết Trung Thiên Đồ, giả danh thần tiên mà nói về nỗi khổ binh dân chiến tranh và vận hội đồng bào cắt tóc… xử trảm quyết, giấy Trung Thiên Đồ nói trên thủ tiêu… Phủ thần đẳng vâng xét Trần Cao Vân, trước kia… giảng thuyết đồ thư, càn quấy suy trắc việc vị lai rồi trở về tỉnh quán Quảng Nam. Từ mùa thu năm ngoái đến nay, đảng cắt tóc Bình Định nổi lên, y ở Quảng Nam, mà dân đảng hạt nói trên không có người nào khai ra sự tình gì, huống chi khi ấy y giảng thuyết, so với việc niêm yết tuyên bố có khác. Vậy Trần Cao Vân, xin chiếu y luật nói trên (truyền dụng hoặc chúng), xử trảm giam hậu, phát giao Côn Lôn phối dịch”(6).

Qua đây, Trần Cao Vân bị tòa án liên chính quyền Pháp – Nam kết án 9 năm tù khổ sai, vì trước là tội rao giảng học thuyết kích động ý thức hệ đấu tranh của dân tộc Việt Nam, sau là tội treo cờ, tức “lá cờ vải đỏ treo ở cột điện” với nội dung thách đấu quân Pháp trong cuộc khởi nghĩa cùng với Võ Trứ. Như vậy, quãng thời gian ông chấp án là liên tục cho đến năm 1907, song dường như ông được nhà cầm quyền trả tự do sớm trước hạn định khoảng 1-2 năm. Cứ liệu này bác bỏ sự áp đặt tùy tiện của tác giả Sơn Bình dựa trên cơ sở các tư liệu cũ, cho rằng “… cụ cũng bị chúng tra tấn nhiều trận và bị giam đến 11 tháng mới được tha”, sau đó “… cụ đã được chúng chuyển ra giam ở lao Bình Định với bản án 6 năm trong khám đường… Sau triều đình xét lại, giảm còn 3 năm, một năm giam ở Bình Định, 2 năm sau đưa về giam ở ngục Quảng Nam”. Đồng thời Bùi Xuân Huyến lúc bấy giờ nắm cương vị Tổng đốc Bình Định (tỉnh lớn) kiêm quản Phú Yên (tỉnh nhỏ) để làm án Trần Cao Vân chứ không phải “… đang làm Bố chánh tỉnh Phú Yên” theo bài viết Chí sĩ Trần Cao Vân.

  1. Về việc Trần Cao Vân ra tù từ Côn Đảo và tham gia Hội Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ, theo tác giả Sơn Bình thì “Ở tù Côn Lôn được 6 năm, sau Triều đình xét án lại, cụ được ân xá về lại nhà vào đầu năm 1914… Năm 1915… các nhà ‘Việt Nam Quang Phục Hội’ đã bí mật họp nhau vạch ra đường lối cứu nước. Đảng giao cho cụ Trần Cao Vân và Thái Phiên tìm cách liên lạc với vua Duy Tân, thuyết phục vua tham gia…”. Những cứ liệu dưới đây cho thấy Trần Cao Vân không được chính quyền thuộc địa trả tự do sớm như vậy, đồng thời ông cũng không phải là lãnh tụ của tổ chức Hội Việt Nam Quang Phục.

Kỳ bộ Hội Việt Nam Quang Phục ở Trung Kỳ tồn tại về sau dưới danh nghĩa một hội buôn, phù hợp với phong trào cổ động chấn hưng kinh tế nước nhà thông qua loại thổ sản đặc trưng của địa phương: Hội Thương mại Quế Viên (theo nghĩa: Hội Buôn Trại Quế/Vườn Quế). Từ đó, Hội đã thu hút được nhiều yếu nhân và phát triển thực lực nhanh chóng, tập trung ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Ngãi và Bình Định. Ghi chép của Sử quán triều Nguyễn cho biết: “Trần Cao Vân, Thái Phiên đều là người Quảng Nam, Cao Vân từng can trọng án, mãn hạn được tha, lại ngầm mưu đồ cùng Thái Phiên lén tới kinh sư tìm bọn Suất đội Nguyễn Quang Siêu, Tá lý Nguyễn Thượng Trung (đã về hưu) cùng tổ chức một hội bí mật (tên là Hội Thương mại Quế Viên), thu góp tiền bạc, ngấm ngầm hành động… nguyên nhân tạo nghiệt thì Cao Vân là kẻ thủ ác”(7). Vấn đề đặt ra ở đây là cần phân định vào thời điểm nào thì tổ chức Kỳ bộ Hội Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ đổi gọi hoặc cải tổ thành Hội Thương mại Quế Viên? Đồng thời Trần Cao Vân là lãnh tụ của Hội Thương mại Quế Viên hay của Kỳ bộ Hội Việt Nam Quang Phục?

Khi Hội Việt Nam Quang Phục thành lập (1912), ngoài ủy viên chấp hành bộ, còn đặt thêm 3 người làm “hồi nội vận động ủy viên 3 kỳ”, trong đó Lam Quảng Trung [Lâm Quảng Trung?] phụ trách Trung Kỳ(8). Vào quãng thời gian 1912-1914, Trần Cao Vân còn đang mang án khổ sai ở Côn Đảo nên hiển nhiên không có chuyện ông là đảng viên. Sang năm 1915, sau khi từ Côn Đảo trở về, Trần Cao Vân tiếp tục bị quản thúc ở Quảng Nam như Hồi ký của Hà Ngại cho biết: “Năm ấy cụ ở Côn Lôn về, chính quyền bắt cụ phải làm nhà ở trong thành tỉnh Quảng Nam. Có lẽ để dễ bề kiểm soát”(9). Bị quản thúc nghiêm ngặt, hơn nữa những tin tức về việc lãnh tụ Phan Bội Châu bị tù ở nhà ngục Quảng Đông (thụ án đến 4 năm, từ tháng 12 năm Qúy Sửu – 1913 đến tháng 3 năm Bính Thìn – 1916) cùng sự thất bại liên tiếp của những vụ bạo động trên cả nước do Hội Việt Nam Quang Phục tiến hành khiến cho Trần Cao Vân khó có thể tiến gần đến tổ chức này. Từ đó, không có cơ sở chắc chắn để khẳng định rằng Trần Cao Vân hoạt động trong Kỳ bộ Hội Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ.

Lãnh tụ tối cao của Hội/Đảng Việt Nam Quang Phục ở Trung Kỳ, sau cái chết đầy phẫn uất của Lam Quảng Trung trên sông Châu Giang vào cuối năm 1913, nhất định phải là Thái Phiên. Trong Tự phán, hai tên tuổi liên quan đến sự thất bại của vụ biến năm 1916 ở Trung Kỳ được nhà cách mạng Phan Bội Châu nhắc đến là Hoàng đế Duy Tân với tấm lòng ngưỡng mộ, và Thái Phiên với tính cách đồng chí: “Vua Duy Tân cách mạng thất bại… Nam Xương tiên sinh tuẫn nghĩa (Nam Xương là hiệu riêng của Thái Phiên), ông nhiệt tâm đại nghĩa có tài kinh tế và biện sự, cộng sự với các đồng chí như ông Tiểu La, ông Ngư Hải đã lâu năm lắm. Khoảng năm Dậu, Tuất (1909-1910), đảng ta [Hội Duy Tân – NVG] ở trong nước cơ hồ không còn ai, chỉ còn một mình Nam Xương tiên sinh; nhưng đến lúc việc Duy Tân [việc Hoàng đế Duy Tân tham gia khởi nghĩa – NVG], tiên sinh lại là người trọng yếu trong đảng [Hội Việt Nam Quang Phục – NVG]”(10). Rõ ràng rằng Phan Bội Châu đã trực tiếp thừa nhận Thái Phiên là lãnh tụ đứng đầu Kỳ bộ Hội Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ.

Trong bối cảnh bế tắc của Hội Việt Nam Quang Phục nói chung và sự thúc bách của cục diện tình hình biến chuyển tại Trung Kỳ, Thái Phiên đứng đầu Kỳ bộ Hội Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ đã chủ trương hành động như một phe đảng độc lập, sẵn sàng liên kết có điều kiện với các nhóm cách mạng khác, phô trương thanh thế của một số yếu nhân yêu nước hàng đầu để tập hợp lực lượng, trong đó đối tượng tranh thủ tối thượng là vị hoàng đế đương kim với những tư tưởng kháng Pháp vừa mới bộc lộ ở độ tuổi trưởng thành và vị chí sĩ nổi tiếng bị thụ án nhiều lần bởi thể chế bất công bạo ngược hiện hành. Song, muốn tiếp cận với lực lượng kháng Pháp của Triều đình do Hoàng đế Duy Tân đứng đầu, Thái Phiên buộc phải đàm phán thông qua Trần Cao Vân, người xác lập được nhiều mối quan hệ với Hoàng gia nhờ ảnh hưởng uy tín lớn của cá nhân cùng nhiều thế hệ học trò đang thụ chức trong bộ máy liên chính quyền Pháp – Nam.

Thật vậy, theo Hồ sơ GGI-65530 với bản cung khai đầu tiên của Trần Cao Vân đề cập đến cuộc bàn bạc giữa ông và Thái Phiên trong việc vận động Hoàng đế Duy Tân vào khoảng cuối năm 1915, ông đưa ra 5 điều kiện, trong đó nội dung ở  điều kiện 1 và 4 rằng: “Chọn một vị vua của triều đình nhà Nguyễn” và “Chúng ta lấy Nho giáo làm quốc giáo…”(11). Đến đầu tháng 3.1916, trước khi hội kiến chính thức với Hoàng đế, Trần Cao Vân truyền đạt mô hình chính thể thông qua viên đặc phái Tôn Thất Đề và được Hoàng đế đồng thuận, theo như lời khai trong Hồ sơ của viên này như sau: “Trần Cao Vân nói, những người khởi nghĩa muốn chiếm lại vương quyền và thành lập nền cộng hòa, nhưng ý của ông ấy [Trần Cao Vân] là muốn tái lập quyền lực tuyệt đối của nhà vua và chỉ có vua là lãnh đạo tối cao. Không biết vua nghĩ gì về vấn đề này. Ông ta yêu cầu tôi chuyển lời đến đức vua. Khi tôi trình lên đức vua những suy nghĩ của Trần Cao Vân, nhà vua sai tôi mang thư có nội dung: ‘trẫm cũng nghĩ như các khanh!’ trao cho ông Vân”(12).

Chính trong thời điểm này, khi Kỳ bộ Việt Nam Quang Phục Trung Kỳ của Thái Phiên hợp tác với lực lượng Cần vương do Hoàng đế Duy Tân cùng Trần Cao Vân hướng đạo, có thể còn có sự liên kết của các yếu nhân từng hoạt động theo phong trào dân chủ của Phan Châu Trinh, những lãnh tụ của cuộc bạo động sắp tới đã thống nhất đặt tên cho tổ thức chung thành Hội Thương mại Quế Viên. Đến đây, từ vị trí người trung gian kết nối giữa các tổ chức – lực lượng, Trần Cao Vân trở thành một trong những lãnh tụ chủ chốt của phong trào cách mạng mới. Do vậy, đứng về quan điểm của liên chính quyền Pháp – Nam, Trần Cao Vân là kẻ chủ mưu đứng ra khích động làm xáo trộn nội tình chính trị tại nơi đầu não xứ Trung Kỳ, đúng như lời nghị án của Quốc Sử quán đã nêu trên: “…. nguyên nhân tạo nghiệt thì Cao Vân là kẻ thủ ác”.

  1. Về ngày giờ ấn định thời điểm bắt đầu cuộc khởi nghĩa, tác giả Sơn Bình cho là “Kế hoạch khởi nghĩa định vào giờ Tý ngày mồng hai tháng Tư năm Bính Thìn (3.5.1916)”. Đối chiếu với các nguồn sử liệu khác, ta có:

– Đại Nam thực lục chép “Đêm mồng 2 (Canh tý) [tháng 4 năm Duy Tân thứ 10 (1916)] vua tự rời ngôi báu” để chuẩn bị khởi nghĩa vào lúc rạng sáng ngày mồng 3(13).

– Lịch sử Việt Nam cho rằng “Thái Phiên và Trần Cao Vân đã quyết định khởi nghĩa vào đêm mồng 1 rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm Bính Thìn (ngày 3.5.1916)”(14).

– Bản báo cáo về tình hình chính trị của Annam của Le Marchant de Trigon ghi đêm mồng 2 rạng ngày mồng 3 tháng 4, tức đêm ngày 3 sang 4 tháng 5 Tây lịch(15).

– Hồi ký của Hà Ngại, với tính cách là nhân chứng cùng thời, mô tả cuộc bạo động diễn ra tại Quảng Nam trùng khớp với mốc thời gian bản báo cáo của Trigon cũng như Quốc Sử quán triều Nguyễn(16).

Từ đó, cần nên thống nhất về thời điểm xảy ra vụ biến năm 1916 là đêm mồng 2 rạng mồng 3 tháng 4 năm Bính Thìn, tức đêm ngày 3 rạng ngày 4.5.2016.

CHÚ THÍCH

  1. Sơn Bình, “Chí sĩ Trần Cao Vân”, Tạp chí Xưa & Nay, số 470 (4), 2016, tr.21-24, 66.

Từ đây, các trích đoạn không chú thích xuất xứ nguồn là của “Chí sĩ Trần Cao Vân”.

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ Tp. HCM, 2012, tr.374.
  2. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức (1848-1883), Nxb. Văn học, 2003, tr.250.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ tứ kỷ XVIII (1877-1880), tập XXXIV, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.110.

Xem thêm: Nguyễn Lục Gia, “Những nhận thức mới xung quanh cuộc Khởi nghĩa Võ Trứ – Trần Cao Vân năm 1900 ở Phú Yên”, Đặc san Suối Nguồn, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, số 16, 2015, tr.125-148.

  1. Sử quan triều Nguyễn thống nhất đánh giá hoàng đế Tự Đức xứng danh một vị thánh vương. Điếu văn trong lễ truy tôn thụy hiệu Tự Đức có đoạn: “… ba mươi sáu năm nối ngôi trời, làm rạng rỡ mưu tốt của thánh thần truyền nối; kế ức nghìn năm để tiếng tốt, nên chính trị giáo hóa như ngọc báu vàng mười. To như trời không hình dung nổi, chẳng phải thánh sao được thế ư? [NVG nhấn mạnh]”. Miếu hiệu lúc đầu của Tự Đức là Thành Tổ, sau chiếu theo Di chúc đổi là Dực Tông, bởi Di chúc truyền rằng: “Trẫm có tội với tổ tiên, không dám thờ vào Thế miếu, trước đã nói rồi, chỉ có quan và dân lượng thứ cho. Miếu hiệu đều xưng tông, như phép nhà Hán, không đặt nhiều tên thụy. Trẫm không có công to, không được xưng là tổ, cũng nên theo thế mà làm”. Như vậy, chính đức khiêm nhường, ngay thẳng của hoàng đế đã khiến cho quần thần và chúng dân càng thêm nể phục.

Trần Cao Vân từng có tên hiệu là Chánh Minh. Có thể niên hiệu Minh Tề này được đặt dựa theo tên hiệu trước. Trần Cao Vân cũng từng xướng thuyết Thiên Trung Đạo, do đó khả năng ông được các tướng lĩnh và quần chúng suy tôn làm minh chủ hay lãnh tụ tối cao là tương đối thuyết phục.

  1. Nguyễn Thế Anh (giới thiệu), Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các Châu bản triều Duy Tân, Nxb. Văn học, 2008, tr.106-107.
  2. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Sđd, tr.83.
  3. Phan Bội Châu, Tự phán, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 179.
  4. Hà Ngại, Khúc tiêu đồng – Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, Nxb. Trẻ, 2014, tr.114.
  5. Tự phán, Sđd, tr.211.

11, 12. Lưu Anh Rô; theo: http://nguoiquangxaque.com/dat-va-nguoi-xu-quang/201602/ngan-thu-tiet-ro-661401/ đăng ngày 19.2.2016.

  1. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, sđd, tr.711.
  2. Tạ Thị Thúy (cb), Lịch sử Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1918, tập 7, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr.554.
  3. Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại của Pháp ở Aix-en-Provence, Thư khố Toàn quyền Đông Dương, Hồ sơ 4199; dẫn theo: Tôn Thất Thọ, “Về cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân”, Tạp chí Xưa & Nay, số 3 (469), 2016, tr.9-12.
  4. Khúc tiêu đồng – Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, sđd, tr.146.

 

Nguyễn Văn Giác – Trần Minh Đức

 

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ