Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Trao đổi với tác giả Đỗ Danh Huân qua bài “Về nơi sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh”

Đề cập đến Thiền sư Từ Đạo Hạnh, người ta nghĩ ngay đến bài kệ:

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không

Hữu không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không.

Dịch:   Có thì muôn sự có

Không thì tất cả không

Có không trăng đáy nước

Đường vướng có không không.

(Thanh Từ dịch)

Bài thơ thể hiện nhân sinh quan sâu sắc của một đời và một thời lan tỏa cả một nền văn học Việt Nam thời Lý và các đời sau nữa.

Nếu hỏi: “Nhà sư Từ Đạo Hạnh sanh quán nơi đâu?” Ta phải dựa vào các nguồn tài liệu trong chính sử, giai thoại, thư tịch tôn giáo. Về mặt chính sử, các tác giả Nho gia rất kiệm lời mà lại không chấp nhận các việc mơ hồ huyễn mộng xa rời cuộc sống thể hiện qua đoạn văn: “Sử thần Ngô Thì Sĩ bàn: Dã sử chép Đạo Hạnh là con Từ Vinh, nhà ấy nổi tiếng về phép thuật, chứ không phải là cao tăng, các tăng thì trong lòng sáng suốt, thấy rõ chân tính, đâu lại đưa pháp thuật để mê hoặc người ta; huống chi như việc trút xác đầu thai, thuyết quái gở. Người ta nhận được khí tinh tú thì trở thành thánh nhân; người chịu khí nhơ bẩn thì là người phàm tục, làm gì có chuyện kiếp trước kiếp sau. Sử cũ chép về việc Đạo Hạnh từ trước năm Nhâm Thìn thứ ba (1112), đến nay là năm thứ bảy, Đạo Hạnh trút xác. Đặc biệt ghi lên dòng chữ lớn, rồi lấy việc Dương Hoán sinh ghi tiếp phía sau. Đó chẳng phải là ý tôn phù đạo chính, ngăn chặn tà gian. Cho nên đem gộp cả những việc ghi chép trong năm Nhâm Thìn và Bính Thân làm một, mà chia chú ở dưới việc Dương Hoán sinh. Hãy truyền lại tồn nghi.” (1)

Mặc dầu nhận định thế, nhưng một số sách sử vẫn viết về Từ Đạo Hạnh có cả quê quán ông. Đơn cử cuốn: “Danh nhân lịch sử Việt Nam”: “Từ Đạo Hạnh ( ? –1116). Nhà sư nổi tiếng thời nhà Lý. Ông tên là Lộ quê ở làng Láng, huyện Từ Liêm (Hà Nội) con của quan Đô sát Từ Vinh…” (2)

“Đại Nam nhất thống chí” triều Nguyễn, cũng ghi “Thần họ Từ, húy Lộ, Từ Đạo Hạnh, người huyện Yên Lãng, phủ Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Nội, là một vị cao tăng thời bấy giờ, trụ trì ở chùa Thiên Phúc…” (3)

Nhưng sau đó, sách ĐNNTC lại viết tiếp: “Có thuyết nói Đạo Hạnh là người thôn Đồng Bụt, huyện Yên Sơn, cha là Từ Vinh, mẹ là Tăng Thị Loan. Tương truyền ở Đồng Bụt có nền nhà họ Từ, trước chùa có 70 mẫu ruộng là ruộng của họ Từ, nay đem làm tự điền cho thôn ấy” (CT3 – tr 1.483).

Nhà văn Đỗ Quốc Bảo có lần đi thực địa ghi lại: “Đi theo đường Láng – Hòa Lạc, đến cây số 21 rẽ trái là đặt chân lên đất Đồng Bụt, kế đó là Đồng Khanh của xã Ngọc Liệp (Quốc Oai, Hà Tây). Những làng quê đang hiện dần, vóc dáng phố thị này ẩn giấu trong mình biết bao thần thoại và truyền thuyết. Không phải ngẫu nhiên mà làng có tên là Đồng Phật (Đồng Bụt), Đồng Khánh (Đồng Khanh)… bởi đây là nơi sinh Từ Đạo Hạnh (? – 1117), người duy nhất được tôn  lên cả ba ngôi chí kính: vua – Phật – Thánh”. (4)

Từ các nguồn tư liệu quý hiếm trên, trong bài “Về nơi sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh” tác giả Đỗ Danh Huấn viết đoạn văn về nơi sinh ra của họ Từ là có cơ sở và sáng giá: “Miếu thờ nơi Đức thánh sinh ra không còn nữa nhưng một nơi còn lưu lại khá nhiều tư liệu về Thiền sư là chùa làng Đồng Bụt – tên chữ là Thiền Sư tự. Dựa trên lối kiến trúc và phong cách nghệ thuật của các cấu kiện, cho phép chúng tôi đoán định chùa được xây dựng dưới triều hậu Lê, cùng với quá trình xây dựng, chùa còn có bia Pháp sư từ bi, niên đại dựng bia là Cảnh Trị thất niên – dưới triều vua Lê Huyền Tông năm thứ 7 (1669). Mặc dù chùa được xây dưới triều hậu Lê, nhưng qua một nguồn tư liệu khác rất đáng tin và cho phép gợi mở rằng: chùa được xây dựng từ thời Trần. Vì căn cứ vào nội dung minh chuông khắc dưới triều vua Gia Long năm thứ 18 (1820) (đây là quả chuông đúc lại) cho biết sự tích ở làng Đồng Bụt, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai cho hay Từ thánh phụ (tức Từ Vinh, cha của Từ Đạo Hạnh – TG), sinh Từ Đại Thánh (tức Từ Đạo Hạnh – TG), vu bản thôn (ở trong thôn), có điện thổ lưu dữ, chia đều cho bốn giáp làm ruộng hương hỏa giỗ chạp, việc thờ tự này có từ thời Trần Đại Trị năm thứ 12 (1364) và đã được khắc vào hồng chung. Nhưng do binh loạn, chuông phải cất giấu xuống ao (trước cửa chùa có ao Sen) khi mang lên đánh không kêu, phải đúc chuông khác, nên đã ghi lại nguyên văn lệ cũ và danh tính của những bậc hưng công, công đức xây dựng chùa” (tr 37).

Bài “Về nơi sinh ra của Thiền sư Từ Đạo Hạnh” của tác giả Đỗ Danh Huấn hết sức công phu, bút pháp sắc sảo điêu luyện, tài liệu dẫn chứng súc tích vừa chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ, có giá trị cao thật đáng trân trọng. Nhưng tác giả có lẽ nặng về huyền thoại dân gian mà nhẹ về sách sử nên có 02 việc cần bàn cho trắng đen hữu dụng cho người đọc và các nhà khảo cứu.

Việc 1: Thiền sư Từ Đạo Hạnh chết năm nào?

Vô đầu Đỗ Danh Huấn viết: “Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? – 1117) là một trong những vị cao tăng thế hệ thứ 12 của Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, cũng là Thiền sư được biết đến khá nhiều trong lịch sử Phật giáo triều Lý” (tr 36).

Với đoạn văn này tác giả bảo Thiền sư họ Từ mất vào năm 1117.

Qua trang 37, tác giả cho Từ Đạo Hạnh chết năm 1112, thể hiện qua đoạn văn: “…Từ nội dung bức hoành phi nói trên, chúng ta càng có thêm cơ sở để liên hệ tới những dòng chữ chép như sau: “Ngày mồng 7 tháng 3 năm Hội tường Đại Khánh năm thứ 3 (1112), Đạo Hạnh từ cõi niết bàn về cõi đời thác sinh làm con trai Sung Hiền Hầu, không cần nuôi mà chóng lớn, không cần học mà thông suốt, người đẹp và có tài”.

Các chánh sử đều cho Thiền sư Từ Đạo Hạnh chết vào năm 1116. Xin đơn cử:

Đại Việt sử ký toàn thư I: “Bính Thân, năm thứ 7 (1116) …Mùa hạ tháng 6, nhà sư Từ Đạo Hạnh hóa thân trút xác ở nơi Thạch Thất (Thạch Thất là tên huyện, tức huyện Ninh Sơn ngày nay, núi tên là Phật Tích Sơn” (5).

– Đại Việt sử ký tiền biên: “Bính Thân năm thứ 7 (1116)… Mùa hạ tháng 6, em vua là Sùng Hiền Hầu sinh con là Dương Hoán (trước đây vua tuổi đã nhiều, mà không có con trai, ban chiếu chọn con nhà tôn thất để nuôi. Em vua là Sùng Hiền Hầu cũng chưa có con, vừa gặp lúc sư núi Thạch Thất là Từ Đạo Hạnh đến chơi nhà. Sùng Hiền Hầu nói về việc cầu tự. Đạo Hạnh hẹn rằng: “Bao giờ phu nhân sắp sinh thì phải báo tôi biết trước”. Sau phu nhân là Đỗ Thị có mang, đến khi ấy trở dạ mãi không đẻ được. Hầu nhớ lại lời dạy của Đạo Hạnh, sai người đến báo; Đạo Hạnh vội thay áo chạy vào hang núi trút xác mà chết. Phu nhân liền sinh con trai, tức Dương Hoán”. (xem CT1, tr 305)

-Việt Nam những sự kiện lịch sử (từ Khởi Thủy đến 1858): 1116 (Bính Thân) … tháng 6 (ÂL) Nhà sư Từ Đạo Hạnh hóa thân trút xác ở chùa núi Thạch Thất (Phật Tích Sơn)

Từ Đạo Hạnh chết để lại truyền thuyết: “Đạo Hạnh chết, Thần Tông sinh” (6).

Việc 2: Từ “Bụt” ra “Phật” có phải biến âm chăng ?

Trong bài của mình, Đỗ Danh Huấn có viết đoạn luận bài khá rôm rả: “Xét theo quy luật biến âm của ngôn ngữ, có nhiều dạng thức khác nhau, nhưng trong đó có cách biến âm từ âm B sang âm Ph (B=Ph) và ngược lại ví như làng Phùng Xá (Hán) thành làng Hùng (Nôm) hay làng Phù Xá (Hán) thành Bùa (Nôm) đây cũng là một trong những dạng thức hình thành và biến đổi của tên lạng Việt. Trường hợp tên làng Đồng Bụt, sự biến âm – đọc lệch từ Phật sang Bụt hay ngược lại là sự biến âm hoàn toàn nhưng nghĩa không đổi, bằng cách giữ nguyên từ tố đầu (Đồng) và thay đổi từ tố thứ hai (Phật – Bụt) trong đó nghĩa của từ vẫn được bảo lưu. Như vậy nhân dân nơi đây đã rất khéo léo khi đặt tên cho làng, có lẽ trong tâm thức người dân thôn Đồng Bụt, Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử lập làng Đồng Bụt nên họ đã lấy tên làng mình là Đồng Bụt (hay Đồng Phật) để tưởng nhớ đến Thiền Sư” (tr 16 – 17).

Tác giả đâu biết rằng chữ Bụt (Nôm) của người Việt còn chữ Phật (Hán) của người Tàu, hai đường hai lối khác nhau làm gì có sự chuyển âm. Hai chữ Bụt và Phật xuất hiện ở nước ta vào hai thời kỳ khác nhau trong quá trình phát triển của Phật Giáo. Một phái đoàn từ Ấn Độ đi đường biển đến Luy lâu từ Boudha dân ta trực tiếp dịch là “Bụt” ; một phái đoàn khác (về sau) từ Ấn Độ sang Trung Quốc từ Boudha được người Tàu dịch là “Phật”, đến khi sang Việt Nam đọc chữ Hán, dân ta cũng gọi là “Phật”. Điều này được Khánh Tường lý giải minh bạch khúc chiết sự việc như sau: “Phật và Bụt đều là khuyên âm của từ gốc Boudha, tiếng Phạn có nghĩa là Đấng Giác Ngộ. Bụt là phiên âm trực tiếp Phạn sang tiếng Việt là tiếng Thuần Việt (Nôm – Nam). Phật là phiên âm từ chữ Boudha sang chữ Hán: Phật Đà, gọi tắt là Phật.

Đạo Phật truyền sang nước ta theo hai con đường: trực tiếp và gián tiếp. Các nhà sư của Ấn Độ đã đến nước ta từ thế kỷ thứ 2. Luy lâu sớm trở thành một trung tâm Phật Giáo. Nhà sư Đàm Thiên từ đời nhà Tùy có nhận xét: “Xứ Giao Châu có một đường thông sang Thiên Trúc. Phật Giáo truyền sang Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu 20 bảo tháp, được hơn 500 vị tăng  và dịch được hơn 15 bộ kinh rồi. Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta”.  Do việc truyền trực tiếp đó mà Boudha, từ đầu công nguyên, được phiên âm sang tiếng Việt là Bụt (Bụt nhà không thiêng; Gần chùa gọi Bụt là Anh) Đạo của Cakya Mou-ni được gọi là đạo Bụt. Đến thế kỷ thứ 4, thứ 5 Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc mới sang nước ta. Chữ boudha phiên âm sang chữ hán là Phật Đà. Ảnh hưởng của thời kìa Bắc thuộc Phật giáo Đại thừa (còn gọi là Bắc Tông) dần dần lấn át Phật giáo Tiểu Thừa (còn gọi là Phật giáo nguyên thủy hay Nam Tông. Chữ Phật cũng dần dần thay thế cho chữ Bụt vì các tăng lữ Bắc Tông dùng kinh viết bằng chữ Hán. Chữ Bụt chỉ còn trong ngôn ngữ dân gian”. (7)

Để kết luận: qua nhiều sự kiện lịch sử đã dẫn chứng, mặc dầu bài “Về nơi sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh” có rất nhiều công phu thật đáng trân trọng. Tác giả Đỗ Danh Huấn cho “Thôn Đồng Bụt là quê quán của nhà sư Từ Đạo Hạnh tự từ Lộ” tôi rất đồng tình, còn riêng năm mất của nhà sư và 2 từ Bụt chuyển Phật nên lưu ý xem xét lại. Chi tiết tuy nhỏ nhưng hậu quả sai với chánh sử phát tán vào nghiên cứu và văn học là một sự việc không nhỏ đâu. Kính cẩn chào câu: “Lời quê góp nhặt dong dài”.

 

Ghi chú:

Ngô Thì Sĩ “Đại Việt sử ký tiền biên” Hồng Bàng XB 2012 (tr 305).

Trương Hữu Quỳnh – Phan Đại Doãn “Danh nhân lịch sử Việt Nam” Giáo Dục XB 1987 (tr 10).

Quốc sử quán triều Nguyễn “Đại Nam Nhất thống chí” Lao Động XB 2012 (1483).

Đỗ Quốc Bảo “Đi tìm nơi sinh “Thầy” Từ Đạo Hạnh” Kiến Thức Ngày Nay, số 639, ngày 10/5/2008 (tr19).

“Đại Việt sử ký toàn thư I” Văn hóa – Thông tin, XB 2004 (tr 342).

Viện sử học “Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thủy đến 1858” Giáo Dục – XB 2002, (tr 85).

Khánh Tường “Trả lời câu hỏi “Phật” và “Bụt” báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 17/12/2005.

 

 Nguyễn Tấn Vĩnh ( 16, Tổ I, ấp Bình Thường B, phường Long Tuyền,Quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ)

 

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ