Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Tín ngưỡng Bà Phường Chào ở Quảng Nam qua Thần nữ linh ứng truyện

 

Trong tín ngưỡng thờ nữ thần miền Trung, có thể dễ dàng nhận thấy ảnh hưởng mạnh mẽ bao trùm của Bà Mẹ Xứ Sở Thiên Y A Na và những hóa thân của Bà, từ cấp độ Xứ Sở vĩ mô cho đến vùng miền cũng như khu vực xã thôn, sông nước cụ thể. Điểm đặc biệt là ở Quảng Nam, hóa thân của Bà hiển hiện rõ nét qua danh xưng Bô Bô (Bà, Đại vương), phổ biến khắp các vùng phía bắc Quảng Nam, từ Núi Chúa đến tận Cù Lao Chàm, nổi tiếng như ở Bà Thu Bồn.

Chính ải Hải Vân và dòng sông Thu Bồn là ranh giới phân định rõ nét nhất cương vực Đại Việt và Champa sau cuộc hôn nhân lịch sử của Huyền Trân công chúa và vua Chiêm Thành là Chế Mân năm Bính Ngọ (1306). Cho tới giữa thế kỷ XVI, bức tranh làng xã Việt nơi đây được ghi nhận bước đầu qua Ô Châu cận lục (1) và mở mang làng xã nhiều sang phía bờ nam hồi cuối thế kỷ XVIII,(2) thế kỷ XIX, cụ thể như Thu Bồn, Mậu Hòa, Chiêm Sơn, Mỹ Xuyên, Trà Kiệu, Thạch Bàn… Chính trong bối cảnh này, đã định hình nên một nữ nhân thần mới từ phía bờ bắc sông Thu Bồn và cũng vân du, lan tầm ảnh hưởng về phía nam: Bà Phường Chào – Phiếm Ái – Bà Chợ Được.

Có lẽ tín ngưỡng Bà Phường Chào xuất hiện sớm và nhanh chóng lan truyền, thực hành phổ biến trong dân gian nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, mới được văn bản hóa qua Thần nữ linh ứng truyện.(3) Như vậy, có thể thấy dạng thức giáng hạ, thăng thiên, vân du khắp chốn và về sau được văn bản hóa tín ngưỡng thờ nữ thần khá phổ biến, tương tự như Vân Cát Thần nữ miền Bắc và Thiên Y A Na ở Khánh Hòa.

Tín ngưỡng thờ nữ thần rất thịnh hành ở Quảng Nam, “đó đều là anh thư vĩ tích rạng rỡ trong nhân hoàn” cho nên tác giả muốn “Quay lại tìm những chuyện cũ, trước thời Trung Hưng có rất nhiều. Niên kỉ đã xa khó có thể biên chép, còn niên kỉ gần đây sao lại để khiếm khuyết” để cho ra đời tác phẩm.

Theo đó, nữ thần là người họ Nguyễn, húy Của, ở châu Phiếm Ái, sinh ngày 20 tháng 2 năm Canh Thân, triều Lê, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39.(4) Cha là Nguyễn Trí, làm quan dưới triều Lê, sau này làm quan đến Đặc Tấn Tòng Đại Phu. Mẹ là Cung nhân Trịnh Thị Tình và nhũ Mẫu Đoàn huý Đoạn thay mẹ dạy bảo. Hai ông bà có nhiều con, gia đình ngày càng khá giả và nữ thần được sinh ra, có “dung hạnh khác thường” và nhiều điểm dị thường, như “Tính thích sạch sẽ, áo quần may xong phải giặt xong mới mặc, rất thích màu đỏ. Thịt mua ở chợ đã có người mua trước không ăn” v.v… Năm Gia Long Đinh Sửu (1817), vừa đến tuổi cập kê thì xuất trần, đến ngày 19 tháng 11 du tiên. Mai táng xong, có một con trâu húc vào thần mộ thì tức thời chết đứng. Dân làng cho là điềm khác lạ. Lúc đó, ông chủ bái lại cho rằng điều đó chỉ là ngẫu nhiên, cô ta đâu có linh. Vừa nói xong, ông chủ bái tức thì bị đau đầu, không lâu sau qua đời. Thần nhập đồng nói rằng: “ông đó bất kính với ta mới bị như thế”. Từ đó hiển rõ linh ứng, phò trợ dân lành, trừng trị kẻ ác, như chuyện trừng trị tên Cai hay trêu gái nhà lành, tên Nguyễn Thuần buôn nước mắm, cứu Lê Hùng lúc đi buôn bán trên thuyền tận Hà Nội, dạy bảo lễ nghĩa cho cháu Nguyễn Thực v.v…

Linh mộ của ngài trước táng tại đất của xã Phiếm Ái. Đến năm Thành Thái 10 (1898), Đốc Bộ đường Quảng Nam là Nguyễn Công Thượng thấy sông Ái Nghĩa xói lở vào sát bên mộ bèn xin dời đến gần đất của xã Phước Yên. Khi khai quật vẫn thấy đất trong mộ có đủ ngũ sắc, thi thể còn nguyên, dưới cằm có chuỗi ngọc màu trắng bao quanh thần dung. Dời mộ xong, thần nhập đồng cốt, sai cháu là Nguyễn Thực dùng cau trầu rượu để cảm tạ hương nhân. Hương nhân lại rất bái phục. Đến năm Bính Ngọ thứ 16 (1904), Tổng Đốc Quảng Nam Hồ Đăng Đệ cùng sỹ trí Bố Chánh sứ Hồ Đắc Triệu làm huyện doãn Đại Lộc, đã lưu tâm khuyến khích viên hào trong huyện quyên cúng ngân tiền để tu tạo thần mộ – vốn trước đây là mộ đất, nay được làm mới lại với quy cách mới, thần mộ từ đó tráng lệ, khiến cho mọi người thêm sùng kính.

Trong hành trình của Bà, từ năm Tự Đức thứ 5 (Nhâm Tý – 1852), thần vân du, chợt đến Phước Ấm (tên cũ là thôn Phước Toản, được ngự phê đổi từ Kiến Phúc nguyên niên – 1884), thấy nơi đây còn hoang vu, dân cư thưa thớt nhưng phong cảnh hữu tình, liền có ý muốn tụ nhân lập chợ nơi đây. Lúc đó, người mua bán tập trung tại chợ Trà, bị cách trở đò ngang qua về giao dịch. Một ngày thần nhập đồng tự xưng cô phường Chào và họ tên, lập thành chợ này. Nhân đó có người gọi chợ này là chợ Bà hoặc chợ Được. Để có lợi ích hàng ngày cho mọi người, trong xã liền phát cỏ rậm, dựng quán xá buôn bán, lâu ngày thành chợ, mọi việc đều như nguyện vậy. Dần dần đông đúc, nhà cửa nối dài, thành một nơi đô hội.

Sau khi lập chợ, Thần nhập đồng chỉ nơi lập miếu. Hương nhân ngưỡng mộ, đến đó để cầu, mọi việc đều được như nguyện, tài lợi cuồn cuộn đến, những người buôn bán bèn quyên cúng lập miếu, có thiết cúng tiệc ca, các khoản tế lệ. Hàng năm 25 tháng 2 là ngày lễ giáng sinh của thần; ngày 19 tháng 11 là ngày thần tẩm hoá, còn chúc văn tế thần có thêm ba vị: cha, mẹ và mẹ nuôi của thần.

Lệ cúng ca được tổ chức hàng năm vào ngày 12 tháng giêng, sau đó đổi thành ba năm một lần. Trước khi cúng ca một đêm, bày khám phụng nghinh thần vị đi quanh trong chợ. Mọi nhà buôn đều nô nức treo đèn, thiết án, xông hương, đốt pháo, nối liền rạng rỡ, đều xem đó là thịnh sự. Người xem đứng yên không ồn ào. Sự linh sảng của thần khiến mọi người ngưỡng vọng.

Chính sự linh hiển đó mà tháng 3 năm Thành Thái thứ 6 (1894), xã dân Phước Ấm có đơn tâu và ngày 20 tháng 9, được triều đình ban tặng Sắc thần nữ linh ứng Nguyễn thị tôn thần, trứ phong Trai Thục Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần. Năm 1896, miếu thờ ở Phiếm Ái cũng được ban tặng sắc phong.

Ngoài sự xuất hiện chính thức, đồng thời như một hóa thân, hay hiện hữu bên cạnh theo phương thức Việt hóa từng bước hình ảnh Bà Mẹ Xứ Sở Thiên Y A Na – Bà Chúa Ngọc, đời sống tinh thần của cư dân Quảng Nam dọc lưu vực sông Thu Bồn còn có sự gắn kết theo phương thức “gia đình hóa” quan hệ giữa các vị nữ thần linh hiển trong vùng: “cô em út” Bà Phường Chào.

Ở đây, mối quan hệ giữa Bà Thu Bồn và Bà Phường Chào rất đáng quan tâm. Từ kết quả khảo sát bước đầu, chúng tôi tạm phân định tính chất các vị nữ thần trong đời sống tín ngưỡng làng xã dọc lưu vực sông Thu Bồn thành các vị thiên thần, nhân thần. Tất cả nhằm khẳng định khả năng và các hình thức Việt hóa hữu hiệu của lớp lớp cư dân Việt di cư từ miền Bắc, suốt chiều dài lịch sử: (1) Phủ lớp áo văn hóa Việt lên trên những hiện tượng văn hóa tín ngưỡng bản địa, và (2) Từng bước hình thành nên những hiện tượng văn hóa tín ngưỡng Việt, nhưng cũng trên chính phông nền chung đó.

Đây chính là thái độ có tính nhị nguyên, hay lưỡng hợp trong đời sống tín ngưỡng tâm linh của cư dân Việt, từ thái độ kính nhi viễn chi, dần kính như tại; vừa muốn tôn vinh những giá trị Việt đặc thù nhưng vẫn sợ, cảm thấy bất an, bất kính với những giá trị văn hóa tâm linh bản địa phi Việt, tiền Việt vốn có sức sống bền chặt từ cội nguồn. Cho nên Bà Phường Chào, Bà Phiếm Ái, hay Bà Chợ Được, thực chất chỉ là một, mang đậm tính chất thuần Việt và cũng được kiến tạo theo đúng mô thức Việt, gắn bó mật thiết với hành trạng của bà: nơi sinh ra, nơi dạo chơi, điểm giáng thế, nơi Bà từng dạy dân nghề nghiệp, hoặc chữa bệnh hay ban phát ân đức rộng rãi v.v…[i]

Tuy nhiên, cho dù có sự linh hiển, thiêng liêng đến mức độ nào, Bà Phường Chào cũng chỉ dám đứng một vị trí khiêm tốn so với Bà Mẹ Xứ Sở có “tuổi thọ” và tầm ảnh hưởng sâu rộng thuộc hàng thượng đẳng tối linh thần: là cô em út, bà hoặc tín hữu của bà, tương truyền, từng mua cúng cho lệ bà Thu Bồn 1,7 mẫu ruộng mà hiện nay ở làng Thu Bồn vẫn còn hiện hữu danh xưng xứ ruộng Bà Phường Chào. Dân gian Quảng Nam đến nay vẫn lưu truyền phổ biến câu ca: Bô Bô nói với Phường Chào/Bên em, bên chị, bên nào thiêng hơn?

(1) Vô danh thị, Ô châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Trần Đại Vinh, Nguyễn Văn Phước tân dịch, hiệu chú, Huế: Nxb. Thuận Hoá, 2001, tr. 65 – 67.

(2) Lê Quí Đôn, Toàn tập, T.1 – Phủ biên tạp lục (bản dịch Viện Sử học), H.: Nxb. KHXH, 1977, tr. 84 – 86.

(3) Nguyễn Bội Bảo [Lộ] (1919), Thần nữ linh ứng truyện (Hồ Mộng Truân phụng duyệt), bản lưu tại lăng Bà chợ Được. Bản dịch của Lê Đình Hùng, Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế, tháng 12.2015.

(4) Có lẽ có sự nhầm lẫn ở đây bởi năm Cảnh Hưng 39 là Mậu Tuất (1778), còn nếu năm Canh Thân (1800) thì phải Cảnh Hưng lục thập nhất niên – là năm Cảnh Thịnh thứ 8.

[i] Thần nữ linh ứng truyện, bản chữ Hán hiện lưu tại Viện Hán Nôm và bản dịch viết tay của Trung tâm Quản lý Di tích và Danh thắng Quảng Nam, không đề rõ người dịch, năm dịch, 7 trang.

 

Trần Đình Hằng – Lê Đình Hùng

 

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ