Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Thầy Phó Mười Hai và sự ra đời ca Ra bộ

Tiến trình lịch sử Cải lương được ghi nhận đi từ nhạc cung đình Huế, sang nhạc lễ, đem đến một thành công lớn cho nhạc thính phòng là đờn ca Tài tử Nam bộ. Từ nhạc Tài tử lại có bước tiếp nối ca Ra bộ và kết thúc bằng một thành tựu khác mang tính sân khấu là Cải lương Việt Nam. Thật ra, từ nhạc Tài tử đến Cải lương có một bước chuyển tiếp quan trọng mà công đầu là của thầy Phó Mười Hai Tống Hữu Định với sự đóng góp của ông trong quá trình sáng tạo ca Ra bộ, một bước chuyển quan trọng để nhạc thính phòng bước sang địa hạt sân khấu Cải lương.

Sự hình thành các ban nhạc Tài tử Nam bộ

Về nhạc Tài tử Nam bộ, giới nghiên cứu ghi nhận đóng góp đầu tiên của các nhóm nhạc lễ với sự hình 3 nhóm nhạc tiểu biểu ở Nam bộ vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX: miền Đông, miền Tây và Bạc Liêu; lần lượt với các tên tuổi lớn, như: Nguyễn Quang Đại[i] (Ba Đợi), Trần Quang Quờn[ii] (Kinh lịch Quờn) và Nhạc Khị[iii] (Lê Tài Khí). Từ bậc tiền Tổ Ba Đợi đến hậu Tổ Nhạc Khị, mỗi nhóm nhạc đều có đóng góp lớn cho sự phát triển các bài bản Tổ làm nên nhạc Tài tử, để các nhóm nhạc sau này, không chỉ dừng lại ở hình thức nhạc lễ, chuyên biểu diễn trong các đợt “quan, hôn, tang, tế”[iv] mà trở thành loại nhạc thính phòng mang tính chuyên biệt, nhưng không nặng hướng biểu diễn chuyên nghiệp nên gọi “Tài tử”.

Thực tế Nam bộ, vùng đất thiên nhiên ưu đãi trong quá trình khẩn hoang đã sinh ra nhiều thế hệ công tử trong những gia đình, gia tộc giàu có và trong từng gia đình miệt vườn vốn ít nhiều cũng có máu “công tử”, nên nhạc thính phòng thêm được ưa chuộng và nhạc Tài tử có được đông đảo công chúng khán giả mến mộ, đã có nhu cầu biểu diễn nghệ thuật mang tính doanh thu. Từ đó, phong trào nở rộ với những ban nhạc Tài tử, như những gánh hát tiền thân, có nơi diễn cố định theo định kỳ hoặc lưu động với thời gian trong năm để đến với công chúng từ những năm đầu thế kỷ XX. Khởi đầu của các ban nhạc Tài tử, lịch sử ghi nhận ban của ông Nguyễn Tống Triều[v], người xứ Cái Thia (Mỹ Tho), không chỉ phục vụ công chúng trong nước mà còn tự tin mang quân sang diễn xứ người. Theo Tuấn Giang: “Năm 1910, ở Mỹ Tho có ban Tài tử của Nguyễn Tống Triều được chọn đi diễn tại Pháp năm 1911. Sau Tống Triều thương lượng với nhà hàng Minh Tân khách sạn ở ngay ga xe lửa Mỹ Tho – Sài Gòn giúp vui cho thực khách. Từ năm 1911, ca nhạc Tài tử không chỉ biểu diễn nhạc phong tục, nghi lễ ở nông thôn Nam bộ, ca nhạc Tài tử có tính chuyên nghiệp cao đại diện cho dòng ca nhạc dân tộc bản địa đi diễn ở Pháp. Sau đó phát triển thành ca nhạc thương mại biểu diển ở các sân khấu, nơi đông người, nhà hàng, khách sạn có doanh thu, có những ca sĩ, nhạc công sống bằng nghề đàn ca tài tử”[vi].

Điều đáng lưu ý, ca nhạc Tài tử lúc này chỉ được ghi nhận như một “ban nhạc” hơn là một gánh hát, đoàn hát. TS. Trần Quang Hải khi nghiên cứu về sân khấu Cải lương cũng ghi nhận điều này: “Có một ban nhạc Tài tử ở Mỹ Tho do ông Nguyễn Tống Triều lập ra, với Nguyễn Tống Triều sử dụng đàn kìm, ông Bảy Vô kéo đàn cò, ông Chín Quán thủ cây đàn độc huyền, ông Mười Lý thổi ống tiêu, cô Hai Nhiễu đàn tranh và cô Ba Đắc hát. Mỗi tối thứ Bảy ban nhạc này trình diễn tại Minh Tân khách sạn ở gần nhà ga xe lửa Mỹ Tho. Người đến nghe loại nhạc Tài tử này càng ngày càng đông”[vii]. Hơn nữa, ông còn nhấn mạnh, ca nhạc Tài tử, tiền thân của ca nhạc Cải lương bước lên sân khấu đầu tiên là sân khấu hát bóng: “Ông chủ rạp hát bóng[viii] Casino ở Mỹ Tho thấy khách sạn Minh Tân sao đông khách quá, mới nghĩ đến việc đem ban nhạc này trình diễn trước giờ chiếu phim. Bắt đầu từ đó mới có phụ diễn cổ nhạc trên sân khấu hát bóng. Ca nhạc Cải lương bước lên sân khấu đầu tiên là sân khấu hát bóng”[ix].

Còn học giả Vương Hồng Sển, với tư cách là chứng nhân của thời cuộc, nhận xét tỉ mỉ hơn: “Thầy Hộ, chủ rạp hát bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho, muốn cho rạp hát mình được đông khách, bèn mời ban Tài tử Tư Triều đến trình diễn mỗi tối thứ Bảy và thứ Tư trên sân khấu, trước khi hát bóng. Lối đờn ca trên sân khấu được công chúng hoan nghên nhiệt liệt. Lúc bấy giờ, lối năm 1912, chúng tôi tòng học tại tỉnh lỵ Mỹ Tho có đến xem. Cách chưng dọn sân khấu còn đơn sơ. Cái màn bạc dùng làm tấm phông (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván để một cái bàn chưn cheo[x]. Hai bên sân khấu có để cây kiểng xem rậm đám và khán giả có cảm giác đứng trước một cái phòng khách hạng trung lưu. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem nghiêm trang. Cô Ba Đắc ca rất hay và biết đủ các bài cổ điển. Nhất là cô ca bản Tứ đại oán “Bùi Kiệm Nguyệt Nga” rất duyên dáng”[xi].

Đất Mỹ Tho vốn là đất Đại phố một thời[xii], lại là cửa ngõ đi về của Sài Gòn và các tỉnh miền Tây; hơn nữa có ga xe lửa tiện cho việc khách miền Tây lên Mỹ Tho nghỉ đêm, thư giãn để sáng ngày lên tàu đi Sài Gòn, thành thử điều kiện khách quan đã giúp cho ban Tài tử có được đông đảo công chúng để diễn thương xuyên, tạo điều kiện cho nhạc Tài tử phát triển hết giai đoạn rực rỡ của nó. Trong số những người khách từng đến Mỹ Tho xem ca nhạc Tài tử, có thầy Phó Mười Hai Tống Hữu Định là khán giả, nhưng nhờ tài nghệ, tính phong lưu và lòng đam mê ông đã góp phần vào sự chuyển đổi ca nhạc Tài tử thành sân khấu Cải lương. Vương Hồng Sển viết về ông: “Thầy là người ham dạo chơi khắp đó đây, nên thầy từng ghé Mỹ Tho ngủ đêm tại đây để chờ sáng đáp tàu hỏa lên Sài Gòn, nhơn dịp đó có lẽ thầy đã từng xem hát bóng có đờn ca Tài tử tại Mỹ…”[xiii]

Thầy Phó Mười Hai và sự ra đời ca Ra bộ

Thầy Phó Mười Hai có tên là Tống Hữu Định, sinh năm 1869, mất năm 1932. Ông là một nhân sĩ, văn nghệ sĩ, bút hiệu Tịnh Trai, yêu nghệ thuật và thích tổ chức hoạt động văn hóa, giỏi chữ Nho, tiếng Pháp, xuất thân trong gia đình quan lại, cháu Quốc công Tống Phước Hiệp. Ông làm đến chức Phó Tổng Bình Long (Vĩnh Long) và là con thứ mười hai, nên người đời quen gọi tôn kính ông là thầy Phó Mười Hai. Ông  là người có công trùng tu tôn tạo Văn Thánh miếu Vĩnh Long năm 1901 – 1902: “Kết quả cuộc vận động quyên tiền được số bạc 23.000 đồng trong lúc thời giá lúa một, hai cắc một giạ. Ông đã quan tâm trông nom, đôn đốc tiến hành công việc một cách chu đáo. Ngôi đền Văn Thánh miếu được trùng tu, tôn tạo lại khang trang, làm tăng vẻ cổ kính, tôn nghiêm của một di tích lịch sử văn hóa”[xiv].

Trên lĩnh vực văn hóa Cải lương Nam Bộ, thầy Phó Mười Hai có một đóng góp rất quan trọng được ghi nhận là người có công đầu tạo ra lối ca Tài tử bằng hình thức không chỉ ca mà có diễn. Có lẽ, cảm nhận lối đờn ca Tài tử đơn điệu, bởi tất cả người ca lẫn người đàn, cùng cách ăn mặc, cùng ngồi trên bộ ván thi thố tài năng trở nên nhàm chán trong phong cách biểu diễn, nên sau nhiều lần xem diễn ở Mỹ Tho, dù các tài tử ca hay, đàn giỏi; nhưng Tống Hữu Định vẫn cảm thấy thiếu một sự đa dạng, sống động. Sau khi về lại Vĩnh Long, ông đã cho ban Tài tử nhà thử nghiệm bằng hình thức ca diễn, nôm na gọi là “ca Ra bộ” (vừa ca vừa ra bộ). Lần đầu tiên bài ca Tứ đại oán “Bùi Kiệm thi rớt” được ông dàn dựng trình diễn có ba người thủ vai: ông giáo Du trong vai Bùi Ông, ông giáo Diệp Minh trong vai Bùi Kiệm, cô Ba Định trong vai Kiều Nguyệt Nga.

Đề cập nguyên do xuất hiện hình thức ca diễn này, Vương Hồng Sển viết: “Trong số du khách có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ghé Mỹ Tho ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ đại với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Sau về nhà ông nảy ra ý kiến cho người ca đứng trên bộ ván có ra bộ. Điệu ca Ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915-1916”[xv]. Như vậy, cách hát trình diễn ca Ra bộ là tiền đề để nhạc Tài tử ảnh hưởng và xâm nhập vào các tuồng hát bộ vốn thịnh hành trong buổi đầu khẩn hoang, tạo ra hình thức mới của nghệ thuật Cải lương.

Nhìn chung, giới nghiên cứu đều chấp nhận ý kiến cho rằng ca Ra bộ là bước chuyển tiếp, tiếp cận sân khấu Cải lương và số đông cũng thừa nhận đóng góp này là của thầy Phó Mười Hai. Theo nhạc sĩ Phạm Duy: “Tại buổi diễn có sự hiện diện của các ông Trần Văn Thiệt (cha của nghệ sĩ Duy Lân), Trần Văn Hườn, Trần Văn Diệm (cha của GS. Trần Văn Khê). GS. Trần Văn Khê đã ghi chú chi tiết của buổi diễn ca Ra bộ đầu tiên này, nhưng lại ghi khoảng năm 1917: “Tại nhà ông cai tổng Tống Hữu Định (ông Phó 12) ở Vĩnh Long, khi diễn tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, cô Ba Định trong vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký – vai Bùi Kiệm, ông giáo Du – vai Bùi Ông, vừa ca bản Tứ đại oán vừa ra bộ. Từ đó sanh ra loại ca Ra bộ rồi sau trở thành hát Cải lương”[xvi].

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, lối ca này đã xuất hiện trước đó, dù không phủ nhận đóng góp của thầy Phó Mười Hai đem áp dụng hình thức này vào ca Tài tử. Trong số này, đáng chú ý có ý kiến của TS. Mai Mỹ Duyên: “Ca Ra bộ đã ra đời năm 1916 tại Mỹ Tho do ban nhạc Nguyễn Tống Triều trình diễn”[xvii] và ý kiến của hai tác giả Nguyễn Lê Tuyên, Nguyễn Đức Hiệp: “Cô Ba Đắc là ca sĩ chính của ban nhạc Nguyễn Tống Triều và được cho là người khai mở lối ca Ra bộ. Chúng tôi đặt giả thuyết rằng, khi cô Ba Đắc trình diễn cho vũ điệu của cô Cléo de Mérode trước quần chúng đông đảo trên sân khấu Paris, trong tâm thức của cô Ba Đắc đã có bị ảnh hưởng và cảm hứng bởi phong cách trình diễn kết hợp giữa điệu múa diễn cảm và giọng ca. Cùng lúc đó, nhận thấy sự kết hợp này được hoan hô nhiệt liệt của khán giả và tạo sự thành công vượt bậc của đờn ca Tài tử so với âm nhạc các nước khác, có lẽ ca Ra bộ đã bắt đầu phát sinh trong ý niệm của cô Ba Đắc”[xviii]. Còn bài báo của ông Nguyễn Văn Hanh[xix] lại nhận định: “Lần thứ nhứt diễn tuồng hát Cải lương tại nhà thầy Phó Mười Hai (Vũng Liêm) là ngày 15/11/1918, kế đó đi diễn nơi Sa Đéc và Vũng Liêm…”.

Với thời gian, điệu ca Ra bộ được hoàn chỉnh. Ý kiến về công đóng góp của thầy Phó Mười Hai nhìn chung được ghi nhận. Còn với hình thức ca Ra bộ, phong cách trình diễn có điệu bộ bài bản thích hợp với hệ thống tuồng tích, sân khấu có bố cục cảnh trí, nhân vật có trang phục – hóa trang, đạo cụ thích hợp, đáp ứng được yêu cầu vừa nghe, vừa xem nên thu hút khán thính giả rộng khắp, không chỉ ở Nam Bộ mà còn mở rộng ra cả nước. Quả là một hiện tượng cải cách tuyệt vời của giới ca nhạc Tài tử, trong đó có phần đóng góp lớn của ông Phó Mười Hai.

Tính chất ca Ra bộ, cầu nối đờn ca Tài tử và sân khấu Cải lương

Cùng với sự tiếp thu nghệ thuật hát bội, kịch nói phương Tây, hình thức biểu diễn ca Ra bộ, tiền thân của phong trào Cải lương đã có một bước tiến mới thay đổi về chất, mở ra một không gian công chúng rộng lớn kích thích sự hoạt động và lớn mạnh của hàng loạt các gánh[xx] hát lớn, nhỏ lần lượt xuất hiện theo thời gian. Có thể những gánh hát ban đầu, như: gánh thầy Phó Mười Hai Vĩnh Long (năm 1917), gánh thầy André Thận Sa Đéc (năm 1917), gánh thầy Năm Tú Mỹ Tho (năm 1918) còn mang những dấu ấn của một gánh hát ca Ra bộ. Về gánh thầy Thận, Vương Hồng Sển còn ghi lại đôi câu liễn do Kinh lịch Hối tặng gánh hát, lưu giữ đầy đủ những tên kép chánh: Tòng, Thông, Hào, như sau: “Lương cao Tòng mậu khai hý viện. Thông đạt anh Hào thế sự vô”[xxi]. Tiếc thay, một năm sau, năm 1918, gánh thầy Thận không đủ kinh phí hoạt động nên bán cho thầy Năm Tú. Về sự kiện này, Vương Hồng Sển viết: “Gánh thầy Thận có lẽ vì ăn xài huy hoát quá, thêm thói cạnh tranh kẻ khác thấy nghề mới Cải lương dễ kiếm tiền nên ở Mỹ Tho đã mọc ra nhiều gánh và thầy Năm Tú thực hành hơn ai, sẵn ổ của quạ làm, bèn đóng vai chim tu hú. Gánh thầy Thận vừa rã, gánh thầy Năm Tú dựng lên với bao nhiêu đào kép chánh danh tiếng bên kia sang qua, có lẽ đem theo luôn và tuồng tập. Và thầy Năm Tú như đã nói, là người hết sức thực hành, nên đã biết thâu vô dĩa nhựa, và nếu nhà hiếu cổ nào còn tàng trữ, mỗi lần đem ra quây hát, câu khởi đầu bất hủ là: “Đây là ban hát Cải lương của thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho. Hát cho dĩa Pathé-Phono nghe chơi…”.”[xxii]

Tháng 11 năm 1918, tuồng “Gia Long tẩu quốc” được diễn tại rạp hát tây Sài Gòn, xem như mở ra thời kỳ phôi thai của Cải lương. Và tính hấp dẫn của sân khấu Cải lương đã thúc đẩy sự ra đời lần lượt của các gánh: gánh Tân Thinh (1920), Nam đồng Ban của ông Hai Cu, Toàn nữ Ban (Đồng nữ Ban) (1926) của cô Ba Viện, gánh Trần Đắc (1926), Đồng bào Nam của cô Tư Sự, gánh Văn Hí Ban, Võ Hí Ban, Phước Cương (1926)… Và năm 1920, gánh hát Tân Thinh lần đầu tiên đưa 2 câu liễn đối có hai từ “cải lương” xuất hiện trên biển hiệu rạp hát: “Cải cách hát ca theo tiến bộ. Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”. Như vậy, lịch sử có thêm một dữ kiện để ghi nhận sự ra đời của sân khấu Cải lương. Nhưng theo Vương Hồng Sển, đến tháng 11 năm 1922, gánh thầy Năm Tú diễn ở rạp Mỹ Tho lại lên rạp Modern-Cinéma Sài Gòn diễn tuồng Kiều, sau đó là tuồng Trang Châu mộng hồ điệp, mà ông có đi xem khỉa[xxiii] hai đêm; thì lúc này sân khấu Cải lương mới thật sự thịnh hành. Như vậy, giai đoạn 1920 – 1930 là thời kì nhiều gánh hát ra đời, đặc biệt hai gánh Trần Đắc, Phước Cương diễn tuồng có cả 3 loại: tuồng xã hội, tuồng tích (chủ yếu lấy từ tích Trung Quốc), tuồng phóng tác (từ các tác phẩm văn học phương Tây). Và từ nhăng năm 1930, sân khấu Cải lương đã xuất hiện những diễn viên tên tuổi nổi tiếng trong cả nước, như: Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu, Ba Vân…

Qua những phân tích trên cho thấy, hiện chưa có tư liệu nào có đủ cơ sở khẳng định rõ năm xuất hiện Cải lương. Vì vậy, chỉ có thể nêu khoảng thời gian, như Vương Hồng Sển đã nêu: “Theo tôi, ngày ra đời của Cải lương, nên tầm tra khoảng giữa năm 1918-1919 chí đến năm 1922 là chót”[xxiv]

Về sự chuyển đổi từ caTài tử đến sân khấu Cải lương qua hình thức trung gian ca Ra bộ, có thể hình dung qua các đặc trưng tiếp nối sau:

  1. Ca Tài tử là hình thức “ca độc thoại”; không động tác, điệu bộ; không hóa trang theo nhân vật; hình thức diễn nặng chất thính phòng, để nghe không phải để xem, lực lượng diễn gọn nhẹ, không gian diễn thu hẹp.
  2. Ca Ra bộ là hình thức “ca đối thoại”; có động tác, điệu bộ thích hợp; có hóa trang phù hợp nhân vật; hình thức diễn có tính sân khấu, vừa nghe vừa xem, lực lượng diễn và không gian diễn không bó hẹp.
  3. Ca Cải lương là hình thức “diễn tổng hợp”; vừa nói vừa ca, trong ca – nói có diễn, hóa trang phù hợp với hình thể, tính cách nhân vật; hình thức diễn mang tính sân khấu, vừa nghe vừa xem, lực lượng diễn và không gian diễn mở rộng.
  4. Sân khấu Cải lương là một loại hình văn hóa đặc thù Nam bộ, được hình thành trong quá trình khai hoang mở đất phương Nam. Nó là một loại hình sân khấu tổng hợp, trên cơ sở tiếp thu và phát triển các thể loại nhạc, kịch, vũ trong và ngoài nước; mà ca Ra bộ giữ vai trò cầu nối cho sự chuyển tiếp từ nhạc Tài tử đến sân khấu Cải lương.

Tài liệu tham khảo:

1. Việt Chung – Sách Nhân vật chí tỉnh Vĩnh Long và vinhlong.gov.vn, dẫn theo http://thvl.vn/?p=14241#.
2.

 

Phạm Duy, Music of Vietnam. Carbondale: Southern Illinois University Press, 1975.
3. Đỗ Dũng, Sân khấu Cải lương Nam Bộ, NXB. Trẻ, 2003.
4. Nguyễn Văn Hanh, La Déppêche d’Indochine, số 2739 ngày 21/9/1937.
5. Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, NXB. Trẻ, 2007.
6. Huỳnh Công Tín, Ấn tượng văn hóa đồng bằng Nam Bộ, NXB. CTQG-ST, 2012.
7. Nguyễn Lê Tuyên, Nguyễn Đức Hiệp, Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương, NXB. VH-VN, TP HCM, 2013.
8. Nhiều tác giả, 90 năm bản Dạ cổ hoài lang, Sở VH-TT và DL Bạc Liêu, 2010.
9. Tạp chí Xưa & Nay, số 462 (8-2015).
10. http://tranquanghai.info/p3176-tran-quang-hai-%3A-nguon-goc-cai-luong.html

 

* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (VNU-HCM) trong đề tài mã số B2014-18b-03

[i] Xem Huỳnh Công Tín, Nhạc sư Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) trong sự hình thành và phát triển sân khấu Cải lương Nam bộ, Tạp chí Xưa & Nay, số 462 (8-2015), tr. 49-52.

[ii] Xem Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, NXB. Trẻ, 2007, tr. 30-31.

[iii] Xem Lâm Tường Vân, 90 năm bản Dạ cổ hoài lang, Sở VH-TT và DL Bạc Liêu, 2010, tr. 90-97.

[iv] “quan (đăng quan, tấn phong) hôn (thành hôn, đính hôn) tang (tang chế, tang ma) tế (cúng tế, tế tự)”

[v] Ở Mỹ tho, thời điểm này, có nhiều người tên Triều giỏi cổ nhạc, như: Tư Triều là cha của cô Hai Nhiễu, thiện nghệ cây kìm; còn Bảy Triều (Trần Quang Triều, Trần Văn Chiều) là cha của GS. Trần Văn Khê, giỏi cả đàn kìm, lẫn đàn độc huyền.

[vi] Nguyễn Lê Tuyên, Nguyễn Đức Hiệp, Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương, NXB. VH-VN TPHCM, 2013, tr. 46-47.

[vii] http://tranquanghai.info/p3176-tran-quang-hai-%3A-nguon-goc-cai-luong.html

[viii] Rạp hát bóng, từ Nam Bộ, chỉ rạp Cinéma, rạp chiếu phim, chú giải của tác giả bài viết.

[ix] http://tranquanghai.info/p3176-tran-quang-hai-%3A-nguon-goc-cai-luong.html

[x] Chưn cheo, chân cheo (chân con cheo), từ Nam Bộ, chỉ chân cao, khẳng khiu, chú giải của tác giả bài viết.

[xi] Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, NXB. Trẻ, 2007, tr. 40-41.

[xii] Xem Huỳnh Công Tín, Ấn tượng văn hóa đồng bằng Nam Bộ, NXB. CTQG-ST, 2012.

[xiii] Vương Hồng Sển, sđd, tr. 30.

[xiv] Việt Chung – Sách Nhân vật chí tỉnh Vĩnh Long và vinhlong.gov.vn, dẫn theo http://thvl.vn/?p=14241#.

[xv] Vương Hồng Sển, sđd, tr. 41-42.

[xvi] Phạm Duy, Music of Vietnam. Carbondale: Southern Illinois University Press, 1975.

[xvii] Dẫn theo Nguyễn Lê Tuyên, Nguyễn Đức Hiệp, sđd, tr. 97.

[xviii] Nguyễn Lê Tuyên, Nguyễn Đức Hiệp, sđd, tr. 99.

[xix] Nguyễn Văn Hanh, La Déppêche d’Indochine, số 2739 ngày 21/9/1937.

[xx] Một hình thức tổ chức “đoàn”, nhưng có quy mô nhỏ hơn, chú giải của tác giả bài viết.

[xxi] Vương Hồng Sển, sđd, tr. 60.

[xxii] Vương Hồng Sển, sđd, tr. 110-111.

[xxiii] “xem khỉa” (từ Nam bộ) có nghĩa “xem liên tiếp”, chú giải tác giả bài viết.

[xxiv] Vương Hồng Sển, sđd, tr. 55.

 

Huỳnh Công Tín

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ