Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Tây Yên Tử – Một con đường về với đất Phật

 

 Triều đại nhà Trần là giai đoạn phát triển thịnh đạt của quốc gia Đại Việt, với vũ công ba lần đại thắng đại đế chế Nguyên Mông, với hào khí Đông A rạng ngời muôn thuở. Không chỉ có đóng góp về chính trị, quân sự mà ở các lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, nhà Trần cũng làm nên những giá trị đi cùng năm tháng. Nói đến Phật giáo thời Trần ta không thể bỏ qua sự hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Người mở đầu cho Thiền phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông, vị vua đã hai lần lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược.

Sau khi chiến thắng giặc phương Bắc, Trần Nhân Tông đã lên đỉnh núi Yên Tử tu hành vào năm 1299 và lập nên Thiền phái này. Nhiều thiền viện, chùa, am trên đỉnh núi Yên Tử cũng được xây dựng ở cả miền Đông và miền Tây Yên Tử là hình ảnh của Thiền Trúc Lâm. Riêng ở phía Tây Yên Tử thuộc địa phận hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương, những di tích lịch sử nhà Trần đã trở thành một hệ thống trải dài từ Huyện Sơn Động (Bắc Giang) theo dòng sông Lục Nam xuống huyện Chí Linh (Hải Dương) – một con đường về với đất Phật.

Yên Tử là một dãy núi lớn nằm trong cánh cung Đông Triều trải dài từ Hòn Gai – Quảng Ninh xuôi về vùng Đông Bắc Bắc Giang và có đột dừng ở vùng Lục Nam – Chí Linh thuộc hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương. Các nhà “địa lý – phong thủy học” đã ví dãy núi Yên Tử trong vòng cung Đông Triều như một con rồng lớn vươn mình ra Biển Đông. Đầu rồng là núi Yên Tử, thân rồng là núi Ngọc Thanh (Phật Tích) và đuôi rồng là núi Côn Sơn (núi Hun). Trong sơn phận của núi Yên Tử ta có thể dễ dàng nhận thấy sự phân chia thành hai vùng Tây Yên Tử và Đông Yên Tử. Đi tìm hiểu sâu hơn về vùng Tây Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang và Hải Dương ta có thể khoanh vùng vị trí của khu vực được trải dài từ huyện Sơn Động xuống Lục Ngạn xuôi dòng sông Lục Nam qua Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang và dừng ở huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Giáp ranh với Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Thời Trần Phật Giáo trở thành quốc giáo, cả nước hướng về Yên Tử và Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo của cả nước. Trong thời kỳ này hầu hết các núi thuộc cánh cung Đông Triều mà Yên Tử là tâm điểm đều được ba vị Tổ sư cho xây dựng chùa, am, thiền viện, trải dài từ Tây sang Đông có mối liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống. Nếu như các vị Tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm tu luyện và đắc đạo ở Đông Yên Tử thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, thì có thể nói vùng Tây Yên Tử cụ thể là chùa Vĩnh Nghiêm thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang  là nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm. Một câu chuyện truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian rằng: Vào thời Trần vùng Yên Dũng, Bắc Giang còn là rừng núi rậm rạp, vua Trần Nhân Tông cùng đoàn tùy tùng đi du ngoạn, cũng là để xem xét các địa thế hiểm yếu nơi gần biên giới, nhằm xây dựng phòng tuyến chuẩn bị chống giặc phương Bắc tràn sang. Con ngựa của nhà vua cứ bon bon chạy đến đất này rồi nó bỗng dừng lại hí vang không chịu bước tiếp. Thấy lạ, vua Trần bèn hỏi nguyên nhân và được mọi người cho biết “đây là đất hình con quy ẩm thực, trên lưng nó là một ngôi chùa cổ đã có từ rất lâu đời”. Ngắm thế đất cao đầy vượng khí, lại có chùa thiêng tọa lạc, vua Trần Nhân Tông cho đây là một duyên may đưa đến đất này, liền cho sửa sang chùa thật khang trang rộng rãi và đặt tên chùa là “Vĩnh Nghiêm”, với mong muốn ngôi chùa tồn tại mãi mãi cùng Phật pháp trang nghiêm, trường cửu. Chùa Vĩnh Nghiêm với thế “tầm long tróc hổ”, lưng tựa vào núi cô tiên, bên tả có tay long là sông Lục Nam, bên hữu có tay hổ là sông Thương và dãy núi Nham Biền, nhìn ra xa là sự hội tụ của sông Lục Đầu cách chừng 5km. Sự hội tụ của Lục Đầu giang đã cho thế đất tụ được khí thiêng, như một vành đai thứ hai chặn bước tiến của quân xâm lược nếu chúng tràn qua biên giới. Cùng với việc đứng trên ngọn núi Yên Tử sẽ bao quát được khắp địa đầu phía Bắc và Đông Bắc của tổ quốc. Bởi vậy khi còn tại vị điều hành chính sự đất nước thì Ngài đã có nhiều lần về thăm chùa. Đến năm 1299, sau khi nhường ngôi cho con chính thức trở thành Thái Thượng Hoàng, Trần Nhân Tông đã đến ngôi chùa thụ giới và trụ trì một thời gian trước khi lên Yên Tử. Các tác giả của cuốn Chùa Việt Nam đều khẳng định chùa Vĩnh Nghiêm “được khởi dựng từ thời Lý. Đến đầu thời Trần thành nơi dừng chân cho khách hành hương từ Kinh Bắc trước khi vượt đường lên Yên Tử”[i].

Từ trung tâm phật giáo Vĩnh Nghiêm nhiều ngôi chùa trên các ngọn núi Tây Yên Tử thuộc cánh cung Đông Triều cũng được trùng tu và xây dựng mới. Ngôi chùa được xây mới là chùa Thanh Mai thuộc huyện Chí Linh-Hải Dương, chùa Hồ Bấc, chùa Ngọ ở Lục Nam- Bắc Giang. Các ngôi chùa khác: chùa Am Vãi, chùa Bình Long, chùa Cao, chùa Hòn Tháp, Chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng từ thời nhà Lý, đến thời kỳ này đều được trùng tu mở rộng, mang đậm dấu ấn của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Mỗi ngôi chùa dù được xây mới hay trùng tu đều có một vị trí đặc biệt là được đặt trên những ngọn núi nối tiếp nhau nằm dọc cánh cung Đông Triều.

Địa phận Tây Yên Tử khởi đầu từ huyện Sơn Động, cụ thể là xã Tuấn Mậu nơi có khu Tâm linh văn hóa Tây Yên Tử, nằm ngay sát chân núi Yên Tử. Liền kề đó là núi Phật Sơn đỉnh núi có chùa Đồng. Ngày 10 tháng 5 năm 2014, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang tổ chức công bố quy hoạch và triển khai kế hoạch xây dựng Khu văn hóa tâm linh Tây Yên Tử thuộc địa bàn xã Tuấn Mậu (huyện Sơn Động, Bắc Giang).

Từ Sơn Động xuống đến Lục Ngạn, ta được biết đến chùa Am Vãi thuộc xã Nam Dương (huyện Lục Ngạn). Chùa nằm trên núi Am Ni.

Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Núi Am Ni ở xã Nam Điện, phía Nam huyện Lục Ngạn. Mạch núi từ Phật Sơn và Thù Sơn kéo đến, phía tả có giếng nước trong không bao giờ cạn. Cạnh núi có hai cái bồn bằng đá, trên núi có nền chùa cũ”[ii]. Truyền thuyết kể lại: “Chùa Am Vãi sơ khai chỉ là một am nhỏ, có một vị sư trụ trì. Ở đây có một hang tiền và một hang gạo do mái đá núi tạo thành. Mỗi ngày cả hai hang chỉ đủ cung cấp cho vị sư này đủ dùng trong một ngày mà không bao giờ chảy hơn. Đến một ngày có một vị huynh đệ từ xa đến thăm quan cảnh chùa và ở lại dùng bữa cùng. Trụ trì chùa Am Vãi phải ra khơi cho hang tiền, gạo chảy ra đủ dùng cho hai người. Từ đó trở đi, hang tiền và hang gạo không bao giờ chảy ra nữa. Nhà sư không có tiền gạo để tu hành nên đã bỏ đi, từ đấy chùa trở nên vắng sư – thành hoang phế”[iii].

Tiếp xuống Lục Nam có núi Phật Sơn, trên núi có chùa Ngọ hay còn gọi là chùa Đồng Vành. “Núi Phật Sơnlà dải núi có hình đức phật ngọa thiền nhập niết bàn đầu quay về phía Tây hướng về phía sông Lục Nam, chốn tổ Vĩnh Nghiêm”[iv]. Vị trí của núi là một vùng đất xung yếu bởi lẽ Phật Sơn là nơi tiếp giáp của ba tỉnh Bắc Giang, Hải Dương và Quảng Ninh. Đặc biệt “Từ đỉnh núi Phật Sơn linh thiêng, nơi Phật Hoàng mở thiền viện, tu luyện có chảy ra một dòng suối rất đặc biệt với màu nước vàng óng nhưmật ong rừng”[v]mà người ta gọi là danh thắng “Suối nước Vàng).Trong sơn phận của núi Phật Sơn có chùa Hồ Thiên, am Ngọa Vân, Chùa Ngọ (Đồng Vành) và một số di tích khác do Pháp Loa xây dựng.Trong số các di tích đó thì chùa Đồng Vành là ngôi chùa cổ nằm ở phía Tây núi Yên Tử thuộc Bắc Giang còn lại đều nằm ở phía Đông thuộc tỉnh Quảng Ninh. Chùa Ngọ nay thuộc xã Lục Sơn, huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang.

Từ mạch núi Phật Sơn kéo  đến là núi Bác Mã, trên núi có chùa Hồ Bấc. Ngọn núi cao chừng 800m, ở thượng nguồn Suối Mỡ, núi thuộc xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam. Thế núi dồn gấp nổi lên mấy ngọn núi liên tiếp, có ngọn cao bằng núi Bác Mã có tên là núi Hồ Bấc, trên núi có hồ nước và chùa Phúc Chủ, nhân dân hay gọi là chùa Hồ Bấc. Trải qua quá trình nghiên cứu của Bảo tàng Bắc Giang đã có kết luận về ngôi chùa được xây dựng thời Pháp Loa, cùng với chùa Thanh Mai cách đó không xa. Nối liền với núi Bác Mã là núi Huyền Đinh trên dãy Yên Tử. Núi đã được nhiều sách cổ nhắc đến. Sách Lục Nam địa chí có ghi: “Núi Huyền Đinh, mộng danh là núi ngàn vạn ngọn vạn đỉnh, nhấp nhô muôn trùng”. Lên núi có thể quan sát toàn bộ khu vực Lục Nam – Chí Linh -Yên Dũng. Trên núi có nhiều ngọn cao như: Rừng Gianh, Hang Dơi, Cửa Cốc, Bình Long… Đặc biệt trên sườn núi Bình Long có chùa Bình Long cổ nay thuộc xã Huyền Sơn huyện Lục Nam. Ngày nay trên vách đá của khu vực núi nơi chùa xưa tọa lạc vẫn còn dấu tích có hai chữ “Thanh Thủy” tức “nước trong”. Trong nhân dân địa phương vẫn còn lưu truyền một câu chuyện “Chùa Bình Long ở núi cao cách xa làng xóm. Trong chùa có giếng nước trong nhưng chỉ đủ cho một nhà sư sinh hoạt đạm bạc. Một lần sư có khách đến thăm, do lòng hiếu khách nên nhà sư đã khơi nước đủ hai người ăn. Từ đó nước cạn nên vắng dần người tu hành. Đến thời Trần thì chùa được trùng tu mở rộng.

Núi Huyền Đinh nối liền sang núi Tượng Sơn. Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Núi Tượng Sơn ở xã Cẩm Lý, phía Tây huyện Lục Ngạn, mạch núi từ núi Huyền Đinh kéo đến. Các núi liên tiếp nhau trông như bầy voi phục, giữa núi có chỗ lõm vào là đường đi, cửa đường hiểm hẹp, có thế một người địch trăm người”. Trong một tư liệu hán nôm Đạo giáo nguyên lưu đã chép về chùa Hòn Tháp là “Quá trình Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử tu hành trên đường đi vua đã ghé lại nghỉ chân ở chùa Hòn Tháp”. Nằm sâu hơn so với chùa Hòn Tháp là chùa Yên Mã. Chùa nhìn thẳng xuống khu chùa Hòn Tháp nhưng cùng một trục thẳng. Đặc biệt ở chùa Yên Mã đã tìm thấy dấu chân Phật trên phiến đá lớn. Cả hai ngôi chùa đều được xây từ thời nhà Lý đến thời Trần khi đạo Phật của Việt Nam chính thức ra đời thì hai ngôi chùa được trùng tu mở rộng mang đậm dấu ấn của Thiền Trúc Lâm. Một ngọn núi thường được gọi là núi sót trong hệ thống kéo dài của Tây Yên Tử nằm ở bờ hữu sông Lục Nam là núi Khám Lạng. Trên núi có hang lớn, hang non gắn với truyền tích Thánh Mẫu và dấu bàn chân. Quá trình nghiên cứu của Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đã tìm thấy nhiều hiện vật để có thể khẳng định trên núi có chùa Cao được xây dựng từ thời Lý khá khang trang và đến thời Trần chùa vẫn tồn tại và được xây dựng mở rộng hơn trước.

Vẫn trên cánh cung Đông Triều ấy, điểm dừng của dãy Yên Tử là núi Côn Sơn hay còn gọi là núi Kỳ Lân hay núi Hun. Sườn núi có chùa Côn Sơn được xây dựng bởi Pháp Loa, vị tổ sư của Thiền phái Trúc Lâm và ngôi chùa cũng là một trung tâm phật giáo lớn thời Trần. Cách đó không xa là chùa Thanh Mai cùng nằm trong hệ thống chùa thuộc Thiền Phái Trúc Lâm ở Tây Yên Tử. Khi nhắc tới Côn Sơn thường đi liền với một di tích nổi tiếng là Kiếp Bạc.

Côn Sơn – Kiếp Bạc thời Trần thuộc huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đây là một vùng danh sơn huyền thoại gắn liền với thân thế sự nghiệp của những danh nhân kiệt xuất. Trong thời Trần, Tam tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Huyền Quang đã về đây hoằng dương thuyết pháp, phát triển giáo giới; quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán – Vị Tư đồ đời Trần Nghệ Tông, đến năm 1385 đã lui về đây ở ẩn lúc tuổi già. Sang thời Lê, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã về sống trong tòa thiên nhiên tráng lệ, lấy Côn Sơn làm tri ân tri kỷ. Cách Côn Sơn chừng 5km là Kiếp Bạc một danh sơn huyền thoại với thế “rồng vươn, hổ phục” có huyền thoại gắn với nhà quân sự kiệt suất thời Trần là Trần Hưng Đạo Đại Vương. Với tầm nhìn của một nhà chỉ huy tài ba, Hưng Đạo Vương đã chọn Kiếp Bạc làm đại bản doanh trong cuộc hai cuộc kháng chiến quân Nguyên Mông lần thứ II và lần III.

Thời đó Vĩnh Nghiêm là một trong bốn trung tâm phật giáo lớn của Đại Việt gồm: Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), Ngọa Vân, Hồ Thiên (Quảng Ninh), Quỳnh Lâm, Chân Lạc  (Quảng Ninh), Thanh Mai, Côn Sơn (Hải Dương). Vĩnh Nghiêm đã trở thành Trường học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam. Tháng 3 năm 2016 chùa Vĩnh Nghiêm đã được Nhà nước công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Trước đó, năm 2012, hơn 3000 mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO vinh danh là Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Từ trung tâm Vĩnh Nghiêm tỏa đi các hướng Đông, Tây, Bắc ta đều có thể thăm trọn vẹn các di tích thuộc Thiền Trúc Lâm Yên Tử từ Tây sang Đông nói riêng và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nói chung trong toàn khu vực Đông- Tây Yên Tử.

Năm 2014, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang đã cho xây dựng Khu văn hóa tâm linh Tây Yên Tử có tổng diện tích 13,8ha thuộc địa bàn xã Tuấn Mậu, được chia làm 4 cụm chùa độc lập gồm chùa Trình, chùa Hạ (chùa Phật Quang) và chùa Trung, chùa Thượng (chùa Kim Quy). Các điểm chùa cùng với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, các công trình dịch vụ giao thông, cáp treo…đồng bộ để kết nối với chùa Đồng, tượng phật hoàng Trần Nhân Tông trên đỉnh Yên Tử.

Có rất nhiều con đường để đến với chốn Phật linh thiêng. Từ trung tâm Phật Giáo Vĩnh Nghiêm, có thể kết nối giữa điểm di tích, văn hóa, lịch sử với nhau. Có nhiều con đường để về với chốn Phật. Như từ huyện Yên Dũng thăm chùa Vĩnh Nghiêm có thể theo đường sông hoặc đường bộ sang Lục Nam để thăm di tích chùa Khám Lạng, xuống Cẩm Lý rồi Chí Linh, Hải Dương thăm chùa Sơn Tháp, khu di tích Côn Sơn, chùa Thanh Mai. Ngược lên xã Huyền Sơn huyện Lục Nam ngắm cảnh chùa Bình Long với sơn thủy hữu tình, nằm cạnh con kênh Minh Đức lưng tựa vào núi, cửa hướng ra dòng sông Lục hiền hòa. Theo con đường dưới chân núi Huyền Đinh, du khách lại tiếp tục đến thăm chùa Hồ Bấc thuộc xã Nghĩa Phương, rồi chùa Ngọ, và dừng chân tại khu tâm linh Tây Yên Tử. Từ đây có ta có hai lựa chọn, có thể lên đỉnh chùa Đồng thăm khu di tích Đông Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh mà không mất công đi bằng đường bộ vòng sang bên kia Yên Tử, hoặc lên Lục Ngạn thăm chùa Am Vãi rồi sang Sơn Động để đến với khu tâm linh Tây Yên Tử rồi lại đến với đỉnh Yên Tử nơi chùa Đồng tọa lạc. Sự kết nối giữa các điểm di tích giúp hình thành các tuyến di lịch khác nhau, dù xuất phát ở điểm nào thì du khách vẫn có thể tham quan được các địa điểm từ Tây sang Đông, hay ngược lại mà không mất nhiều công sức đi lại. Bởi thăm hết các di tích là chúng ta đã đi trên một cánh cung Đông Triều trải dài từ Hòn Gai – Quảng Ninh xuôi về vùng Đông Bắc Bắc Giang và có đột dừng ở vùng Lục Nam – Chí Linh thuộc hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương. Việc mở rộng đầu tư trùng tu, xây dựng các di tích lịch sử, văn hóa, không chỉ bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa dân tộc mà còn góp phần phát triển bền vững khu vực Đông Bắc đất nước.Sự kết hợp giữa Đông và Tây Yên Tử đã tạo dựng nên hình ảnh một “cõi Phật trời Nam” thời Trần và trong thời đại Mở cửa và Hội nhập quốc tế sâu rộng, nó đang hội đủ được các điều kiện để trở thành một Di sản Văn hóacủa nhân loại.

 

[i]Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long: Chùa Việt Nam, Nxb Thế Giới, 2010, tr. 160.

[ii]Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb KHXH,1971, tr. 77.

[iii]Bảo tàng Bắc Giang, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo tồn phát huy các giá trị di sản văn hóa Lý-Trầntỉnh Bắc Giang, Nxb Thông Tấn, 2011, tr.112.

[iv]Nguyễn Xuân Cần, Nguyễn Huy Hạnh, Nguyễn Hữu Tự,Chốn tổ Vĩnh Nghiêm, Bảo tàng Bắc Giang xb, 2004, tr. 88.

[v]Theo http://dulich.alotin.vn/

 

Hoàng Thị Ngọc

 

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ