Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Sự du nhập của Kito giáo vào huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX)

     Sự du nhập của Ki tô giáo vào vùng đất Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa bước đầu manh nha vào năm 1701. Sự du nhập không diễn ra trực tiếp bởi sự truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây mà chủ yếu thông qua những linh mục từ Ninh Bình và những gia đình Công giáo di cư từ khu vực này vào Nga Sơn.

  1. Vài nét về vùng đất Nga Sơn

Theo ghi chép trong chính sử, năm Quang Thái thứ 10 đời vua Trần Thuận Tông (1397), trấn Thanh Đô ra đời bao gồm 7 huyện và 3 châu (nhà Trần đổi từ lộ Thanh Hóa thành trấn Thanh Đô): “huyện Tống Giang (tương đương phía Bắc huyện Nga Sơn, Đông Bắc huyện Hà Trung và phía Đông thị xã Bỉm Sơn ngày nay); huyện Chi Nga (tương đương phía Nam huyện Nga Sơn ngày nay) (1). Như vậy, vùng đất Nga Sơn thuộc về hai huyện Tống Giang và Chi Nga. Đến thời Lê, năm Thuận Thiên Thứ nhất (1428), cả nước được chia thành 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo. Năm 1469, Thanh Hóa được đổi tên là Thừa tuyên Thanh Hoa. Lúc này, Nga Sơn thuộc phủ Hà Trung, có tên gọi là Nga Giang. Giữa thế kỷ XVIII, vì kỵ húy tên chúa Trịnh Giang nên Nga Giang đổi thành Nga Sơn. Trong “Các tổng trấn xã danh bị lãm” (Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX) (2) thì Nga Sơn đầu thế kỷ XIX bao gồm 6 tổng, 100 xã, thôn, trang, sở, giáp. Bao gồm các tổng Thạch Tuyền, Phi Lai, Mậu Lâm, Đông Bột, Đô Bái, Cao Vịnh và xã Thần Phù.

Từ nửa sau thế kỷ XIX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nga Sơn  thuộc phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1966, trên cơ sở thành quả của công cuộc khẩn hoang vùng đất bồi ven biển, hai xã mới ở Nga Sơn là Nga Tân và Nga Tiến ra đời (3). Năm 1977, theo quyết định của Chính phủ, huyện Hà Trung và huyện Nga Sơn được hợp nhất thành một huyện là Trung Sơn. Ngày 30-8-1982, huyện Trung Sơn được chia thành hai huyện như trước đó là Hà Trung và Nga Sơn. Như vậy, từ năm 1982 đến nay, Nga Sơn gồm 1 thị trấn và 26 xã (4).

Về vị trí địa lý Nga Sơn, sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết: “Đông tây cách nhau 21 dặm, nam bắc cách nhau 21 dặm; phía đông đến biển 5 dặm, phía tây đến địa giới huyện Vĩnh Lộc 16 dặm, phía nam đến địa giới huyện Hậu Lộc 6 dặm, phía bắc đến địa giới hai huyện Yên Mô và Phụng Hóa tỉnh Ninh Bình 15 dặm” (5). Hiện nay, về phía bắc, Nga Sơn giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, phía nam giáp huyện Hậu Lộc, tây giáp huyện Hà Trung, và phía đông giáp biển Đông.

Là một vùng đất do phù sa bồi tụ, địa hình Nga Sơn được kiến tạo theo dạng sóng, gồm 3 vùng: vùng đồng chiêm, đồng màu và vùng ven biển. Nga Sơn nằm giữa các sông Hoạt và sông Báo Văn, đoạn chạy qua huyện dài 11 km. Ở phía bắc Nga Sơn, từ xã Nga Thiện, Nga Giáp đến xã Nga Phú là phần cuối của dãy núi Tam Điệp được chia thành 2 dãy, một bên là núi Thiết Giáp, một bên là núi Thần Phù, dài 8,3 km, độ cao trung bình là 100m, chạy hướng ra biển. Giữa hai ngọn núi này trước kia là cửa biển Thần Phù (6), được coi là nơi nguy hiểm đối với việc đi lại. Đây cũng là nơi quần tụ nhiều danh lam thắng cảnh, gắn với nhiều truyền thuyết từ buổi khai thiên lập địa như núi Mai An Tiêm, Động Từ Thức. Sự đứt gãy của địa hình, sự bồi tụ phù sa của biển cả đã tạo ra một vùng đất Nga Sơn khá biệt lập so với các huyện khác trong tỉnh Thanh Hóa.

Ở vị trí ven biển, với diện tích tự nhiên là bờ biển dài 158,1 km2,  nên nông nghiệp trồng cói và nghề thủ công làm chiếu là nghề nghiệp chủ yếu ở Nga Sơn. Ngoài ra còn có nghề nông nghiệp trồng lúa, trồng hoa màu và một số nghề thủ công khác như nấu rượu, làm bún,…Từ rất sớm, người dân đã biết kỹ thuật quai đê lấn biển, khai thác đá núi kè ngăn sóng. Yếu tố này đã hình thành truyền thống đoàn kết chống chọi với thiên nhiên của người dân Nga Sơn.

Dân số của huyện Nga Sơn có 151.328 người, mật độ 957 người/km2, nhưng không hoàn toàn là người bản địa. Trải qua các thời kỳ lịch sử, vùng  này đã tiếp nhận nhiều đợt người di cư từ đồng bằng Bắc Bộ vào sinh cơ lập nghiệp. Trong số đó có cư dân ở Bắc Giang, Nam Định và huyện Kim Sơn (Ninh Bình). Vào thế kỷ XVIII, một số linh mục ở các giáo xứ của Ninh Bình đã sang vùng đất Nga Sơn để hoạt động. Đến thời Nguyễn (1802-1884), một vài gia đình theo Công giáo đã tới nơi này. Những người dân di cư đến đã tìm hiểu phong tục tập quán, văn hóa và nhanh chóng hòa nhập với cư dân Nga Sơn.

Tại Nga Sơn, nhiều ngôi chùa được xây dựng từ sớm. Ngôi chùa Thạch Giản (Nga Thạch) được xây dựng đầu tiên ở Nga Sơn vào đời Lý, chùa Vân Lỗi dựng từ thời Trần khoảng thế kỷ XIV. Chùa Đào Viên được xây dựng vào thế kỷ XVI và được tu bổ lại vào thế kỷ XX. Ngoài ra còn có Chùa Tiên, Phủ Trèo, Phủ Thông ở xã Nga An.

  1. Sự du nhập Ki tô giáo vào huyện Nga Sơn từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX

Vào thế kỷ XVI, các giáo sĩ phương Tây bắt đầu đến Đại Việt tiến hành truyền giáo. Việc truyền giáo bắt đầu ở Đàng Trong với dòng truyền giáo Dòng Tên sớm hơn so với Đàng Ngoài 10 năm, nhưng lại gặp nhiều trở ngại. Vì vậy, các giáo sĩ di chuyển ra Đàng Ngoài (7).

Những năm đầu thế kỷ XVII, Thanh Hóa là một trong số những vùng của Đàng Ngoài mà các giáo sĩ vào truyền đạo. Nơi đặt chân đầu tiên của họ thường là những vùng gần biển. Ngày 19-3-1627, giáo sĩ Alexandre de Rhoes và Marquez đến Thanh Hóa cập bến Cửa Bạng (8) giảng đạo 15 ngày. Kết quả mang lại là họ đạo Cửa Bạng được thành lập, tiếp đến là họ đạo An Vực(9). Dân chúng theo đạo Ki tô tăng lên nhanh chóng. Năm 1641 có 108.000 người, đến năm 1648 có 195.777 người, cuối năm 1657 đã tăng lên 350.000 người. Thời gian này ở Thanh Hóa có 74 nhà thờ đạo. Năm 1699, các cha Dòng Tên (thuộc Bồ Đào Nha) lần lượt đến Thanh Hóa và phụ trách 41 xứ với số dân 3.082 người.

Theo “Hiến chế Ex commissae no bis trong các nhà thờ mà các cha Dòng Tên đòi là thuộc quyền mình” ngày 4- 9- 1701, tỉnh Thanh Hóa được chia làm hai bộ phận để các cha thừa sai truyền giáo và quản lý: Thanh Hóa nội và Thanh Hóa ngoại (10). Theo sự phân chia đó, Nga Sơn thuộc về Thanh Hóa ngoại. Quy định trong Hiến chế cho biết xứ đạo Thần phù đã ra đời ở Nga Sơn, nằm phía đông bắc tỉnh Thanh Hóa. Năm 1862, sau khi vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng 3 tỉnh miền Đông cho thực dân Pháp, việc tự do thờ phụng đạo Ki tô trở nên dễ dàng hơn (11), thì Trần Lục (12) (còn được gọi là cụ Sáu) được giám mục Khiêm cử về phụ trách xứ Thanh Hóa, kiêm cả Kẻ Dừa và Tam Tổng (13). Năm 1870, giáo hạt Nga Sơn được nhập về xứ đạo Hảo Nho của Ninh Bình (14). Đến năm 1932, hai địa phận này mới tách biệt thành giáo phận Thanh Hóa và Ninh Bình. (Theo sắc lệnh thành lập giáo phận Thanh Hóa năm 1932).

Theo những cứ liệu trên, thì Ki tô giáo được du nhập vào huyện Nga Sơn manh nha vào thời điểm 1701, xứ đạo đầu tiên xuất hiện vào  năm 1863. Đến năm 1832, giáo hạt Nga Sơn được thành lập, bao gồm địa bàn của 3 huyện Nga Sơn, Hà Trung và Thị xã Bỉm Sơn hiện nay.

Tài liệu lưu trữ tại Công an huyện Nga Sơn cho biết từ thế kỷ XVIII đã có người công giáo đến sống trên vùng đất của xã Nga Vịnh. Trong làng có 7 gia đình theo đạo Ki tô. Những gia đình Công giáo này đã xin phép Cha xứ xây dựng nhà thờ để làm nơi hành lễ. Xứ đạo tại xã Nga Vịnh thờ Thánh A tôn với số giáo dân là 123 người. Năm 1968, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân phải sơ tán, nhà thờ không còn người bảo quản nên đã đổ nát, hiện nay chỉ còn móng nhà thờ trên nền đất 745m2.

Năm 1826, Chính Nghĩa là một họ thuộc giáo xứ Hảo Nho (Ninh Bình) sau này được tách ra để nhập với giáo xứ Tân Hải. Giáo xứ Chính Nghĩa thuộc xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, là giáo xứ nhỏ với số giáo dân  828 người, thờ Đức mẹ Mân Côi. Cả Chính Nghĩa có duy nhất một nhà thờ giáo xứ. Trước khi thành lập, xứ họ Chính Nghĩa đã có một nhà thờ nhỏ, năm 1945, giáo dân đã xây dựng được một nhà thờ mới.

Dưới thời trị vì của vua Minh Mệnh (1820-1840) và Tự Đức (1847-1883), một vài gia đình công giáo Ninh Bình đã di cư vào làng Bạch Câu, dần dần thành lập nên họ đạo. Số giáo dân của giáo xứ Bạch Câu nằm rải rác trên 5 xã: Nga Bạch, Nga Thủy, Nga Thanh, Nga Thắng, Nga Nhân. Số giáo dân hiện nay là 1.494 người, giáo xứ thờ  Đức mẹ Mân Côi.

Việc truyền đạo của linh mục Dominicô Trần Văn Lãng (quê ở Phát Diệm) và Dominicô Trần Văn Hanh (quê ở Phú Ninh, tỉnh Ninh Bình) là cơ sở hình thành nên giáo xứ Tam Tổng. Năm 1867, hai cha xứ này đến sông Sung (thuộc vùng Bạch Câu) để giảng đạo (15). Năm 1875, khi ba tổng Anh sơn, Yên sơn, Nam sơn ra đời, xứ đạo Bạch Câu được sát nhập với xứ Hảo Nho (Ninh Bình) (16), còn có tên gọi là Tống Anh. Năm 1897, Tống Anh được đổi thành Tống Liên (17). Cũng trong năm 1897, giáo xứ Tống Liên này được phân thành xứ Tam Tổng. Năm 1932, khi giáo phận Thánh được chia thành Phát Diệm và Thanh Hóa thì Tam Tổng thuộc về giáo phận Thanh Hóa, khi đó giáo xứ Tam Tổng có 15 họ. Giáo xứ Tam Tổng trải dài trên ba xã Nga Liên, Nga Thanh và Nga Thủy. Tổng số dân theo giáo khi mới thành lập giáo xứ là 1.985 người, năm 1920 là 2.000 người và năm 2000 là 8.160 người.

Năm 1845, dưới thời trị vì của vua Thiệu Trị (1841-1847), cha Kỳ (người Ninh Bình) đã rời xứ đạo Hảo Nho đến khai hoang vùng đất bồi ở Điền Hộ, thành lập xã có tên là Tòng Chính (18). Địa bàn của giáo xứ Điền Hộ tại xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, cách Thanh Hóa khoảng 60km về hướng Đông Bắc, gồm 2.037 người, thờ Đức mẹ Mân Côi. Năm 1932, phân chia giáo phận Thánh, giáo xứ Điền Hộ thuộc về giáo phận Thanh Hóa.

Giáo xứ Phước Nam ban đầu là một họ thuộc giáo xứ Hảo Nho. Đến ngày 5-7-1932 thành lập giáo phận Thanh Hóa, Phước Nam được tách khỏi giáo xứ Hảo Nho, thuộc về giáo xứ Điền Hộ. Giáo xứ này nằm cách xa Tòa Giám Mục Thanh Hóa khoảng 60km về hướng Đông Bắc, trên địa bàn xã Nga Điền, huyện Nga Sơn với số dân 3.305 người. Giáo xứ này cũng thờ Đức Mẹ Mân Côi.

Xã Nga Thái trước đây là bãi biển đầy lau sậy nhưng đã có một số gia đình từ Phát Diệm (Ninh Bình) đến đây lập ấp. Sau đó họ nhập vào họ đạo Liên Quy của xứ Tam Tổng. Đến năm 1891,  khi số giáo dân tăng lên, Cha Tang đã thành lập giáo họ Liên Quy. Năm 1916, giáo họ Liên Quy được nâng lên thành giáo xứ (gọi là giáo xứ Liên Quy). Giáo xứ này gồm 3 giáo họ: Liên Quy, Lạc Nghiệp, Hiếu Nghĩa. Năm 1926, Cha Thiện về phụ trách giáo xứ và thành lập thêm một giáo họ là họ Yên Nghĩa. Từ đó giáo xứ Liên Quy được đổi tên thành Liên Nghĩa. Giáo xứ Liên Nghĩa ở giữa giáo xứ Tam Tổng và Chính Nghĩa, thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, có số dân 4.281 người.

Như vậy, sự xuất hiện của Ki tô giáo ở huyện Nga Sơn là do sự du nhập, gắn với vai trò truyền đạo của các linh mục và một vài gia đình giáo dân tỉnh Ninh Bình từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Điều này có thể lý giải do sự gần nhau về vị trí địa lý giữa huyện Nga Sơn và huyện Kim Sơn, Phát Diệm (Ninh Bình), nên khá thuận lợi cho việc các cha xứ đi lại truyền đạo. Các nhà thờ đạo Công giáo dù xuất hiện vào khoảng thời gian khác nhau nhưng đều có điểm chung là thờ cùng một vị là Đức Mẹ Mân Côi hoặc Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chỉ có số ít nhà thờ thờ thánh A Tôn. Số giáo dân ban đầu chỉ là những họ đạo nhỏ, sau dần dần thành giáo họ, khi số lượng lớn hơn thì giáo họ phát triển thành giáo xứ. Trong số đó, giáo xứ Tam Tổng có phạm vi tương đối rộng, gồm 3 xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thủy với số dân lớn hơn những giáo xứ khác.

 

CHÚ THÍCH

(1): Thanh Hóa thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr 24.

(2):  Các tổng trấn xã danh bị lãm (Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX ), Nxb Khoa học xã hội, 1981, tr 109-110.

(3): Theo thống kê năm 2004, Tổng cục thống kê, vụ thống kê tổng hợp, Tư liệu kinh tế – xã hội 671 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh của Việt Nam, Nxb Thống kê, 2006, tr 1205.

(4): 1 Thị trấn: Thị trấn Nga Sơn

26 xã: Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga An, Nga Thiện, Nga Giáp, Nga Liên, Nga Thành, Nga Tân, Nga Thanh, Nga Tiến, Nga Hải, Nga Yên, Nga Trường, Nga Văn, Nga Trung, Nga Hưng, Nga Lĩnh, Nga Thắng, Nga Mỹ, Ba Đình, Nga Vịnh, Nga Thủy, Nga Thạch, Nga Nhân.

(5): Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr 263.

(6): hai câu thơ nói về sự nguy hiểm của cửa biển Thần Phù:

Linh đinh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thời nổi, vụng tư thời chìm

Trích theo Vương Duy Trinh, Thanh Hóa quan phong, UB dịch thuật, Bộ Văn hóa giáo dục và thanh niên, 1973, tr 17.

(7): Từ thập niên thứ hai (thế kỷ XVIII) trở đi, quốc gia Đại Việt bị chia cắt thành Đàng Trong dưới sự cai quản của chúa Nguyễn và Đàng Ngoài dưới sự cai quản của chúa Trịnh.

(8): Cửa Bạng: thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

(9): An Vực: còn gọi là Yên Vực, nằm phía tả ngạn sông Mã.

(10): Thần Phù thuộc Thanh Hóa ngoại. Thanh Hóa ngoại gồm những xứ đạo: ke – do, ke- bat, lang- bat, an van, Phuc nha, Co- da, Than- phu, ke- doi, trai- nghe, ke- de, ke- dien, ke- cut. Trích theo Đỗ Quang Chính, SJ, Dòng tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Nxb Tôn giáo, 2008, tr 380.

(11): Điều khoản thứ 2 trong 12 Điều ước được đại diện toàn quyền Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam ký tại Sài Gòn ngày 5-6-1862 là: Tự do thờ phụng đạo Gia tô.

(12): Trần Lục, sinh tại thôn Mĩ Quan, tổng Cao Vịnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1845, ông học tại tiểu chủng viện Vĩnh Trị. Năm 1855, ông vào học tại chủng viện Kẻ Non, đến năm 1858, Trần Lục được phong chức linh mục.

(13): Kẻ Dừa: có thể do đọc chệch âm, tên gọi này ở Nga Sơn là Kẻ Rừa.

(14): Hảo Nho: còn có tên gọi là Vân No, nay thuộc xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Theo tác giả Nguyễn Hồng Dương, Nhà thờ công giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 2003, tr 65, ông cho rằng ngày 19-3-1627, Alexande de Rhoes và giáo sĩ Pierre Marquez sau khi đến Cửa Bạng (Thanh Hóa) thì đã đến vùng Hảo Nho của Ninh Bình.

(15): Bạch Câu: thuộc xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn.

(16): Tam Tổng: thuộc 3 xã Nga Liên, Nga Thủy, Nga Thanh hiện nay.

(17): Tống Liên lại được phân chia thành 4 phái: Phái nhất gọi là Liên Quy, Lạc Nghiệp, Hiếu Nghĩa; phái nhì: Yên Nghĩa, Vĩnh Nhân, Hưng Nhân; phái ba: Tích Thiện, Phúc Thọ, Lạc Đạo; phái tư: Thành Đức, Mậu Đức, Thụy Liên, Ân Quang.

(18): Điền Hộ có tên chữ là Tòng Chính.

 

Mai Thị Huyền

 

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ