Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Những bài viết của giáo sư Hoàng Xuân Hãn trên tập san Sử Địa (1966 – 1975)

Nhân 20 năm ngày mất của GS. Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996)

 

Trong Lời giới thiệu cho lần tái bản Tập San Sử Địa từ số đầu năm 1966 đến số cuối cùng năm 1974, GS Phan Huy Lê đã viết: ”Tập San Sử Địa để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc về tinh thần khoa học và ý thức dân tộc của những người chủ trương tập san và các tác giả bài viết. Tính khoa học và tính dân tộc là đặc điểm bao trùm của tập san. Nhiều bài viết trên tập san thật sự là những công trình nghiên cứu có giá trị cao, sưu tầm tư liệu công phu, xử lý thông tin khoa học, thái độ khách quan trung thực và nhất là góp phần dấy lên tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và nêu cao các giá trị văn hoá dân tộc. Đặc biệt số nào cũng có bài viết của GS Hoàng Xuân Hãn với những tìm tòi, khám phá đặc sắc của tác giả”[i].

Trong bài trả lời phỏng vấn của nguyên Chủ nhiệm Tập san Sử Địa, Ông Nguyễn Nhã đã cho biết:” Bài đầu tiên tôi nhận được là bài “Những lời thề của Lê Lợi” của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn gửi từ Paris… Với 29 số báo , số 1 gồm 128 trang, số 29 gồm 352 trang, không kể bản đồ, hình ảnh, trong số đó có những đặc khảo về danh nhân như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Thanh Giản, Quang Trung hay chiến thắng Kỷ Dậu, 200 năm phong trào Tây Sơn, phong tục Tết Việt Nam, Việt Kiều tại Thái – Miên – Lào, Đà Lạt, Hoàng Sa và Trường Sa…Gần như tất cả các số báo đều có bài khảo cứu của ông Hoàng Xuân Hãn”[ii]

Qua những dòng hồi tưởng của nguyên Chủ nhiệm Tập san cùng những lời đánh giá rất cao của GS Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy rõ sự cống hiến hết mình của GS Hoàng Xuân Hãn đối với nền khoa học lịch sử – địa lý nước nhà và việc thúc đẩy phát triển sự nghiệp văn hóa dân tộc. Giáo sư tuy ở nơi ”viễn xứ” phồn hoa đô hội Paris, nhưng ông vẫn luôn đau đáu nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt – mảnh đất sinh thành cùng nơi đã lưu giữ bao kỷ niệm một thời trai trẻ phấn đấu của bản thân. Ông là người đầu tiên gửi bài cho Tập san Sử Địa và là một cộng tác viên nhiệt tình, hăng hái nhất tham gia từ số 1 đến số cuối cùng của Tập san. Theo hồi ký của những người hoạt động cùng thời thanh niên với Hoàng Xuân Hãn thì Ông là người chủ động và rất có ý thức dân tộc trong việc truyền bá những trang lịch sử oai hùng của nước nhà. ”Toát ra từ tất cả bài của Anh (từ của Luật gia Vũ Đình Hòe gọi GS Hoàng Xuân Hãn – NHT) một tinh thần yêu nước nồng nàn, kín đáo và một ý chí cao tìm tòi cái ”mới” để phục vụ chính nghĩa một cách khoa học và thiết thực”[iii]

Trong bài viết này, chúng tôi, những hậu học chưa từng có vinh hạnh được diện kiến và thụ nghiệp Hoàng Tiên sinh, không dám có ý định đánh giá về những công trình đồ sộ, chất chứa bao tâm huyết của Giáo sư, chỉ xin được điểm lại, hay nói một cách khác là thống kê đầy đủ những lưu bút của Giáo sư đối với Tập san Sử Địa, coi như đó là nén tâm hương dâng lên nhân kỷ niệm 108 năm ngày sinh, tròn 20 năm ngày mất của Ông (1908 – 1996) và 50 năm ra đời số đầu tiên của Tập san Sử Địa (1966-2016).

Những bài viết của GS Hoàng Xuân Hãn trên Tập san Sử Địa (1966 – 1975):

–  Số 1 (1-3/1966) –  Những lời thề của Lê Lợi (Văn Nôm đầu thế kỷ XV);

– Số 2 (4-6/1966) –  Những lời thề của Lê Lợi (Văn Nôm đầu thế kỷ XV);

– Số 4 (10-12/1966) – Gốc tích các chúa Trịnh và 1 bức thư Nôm của Trịnh Kiểm;

–  Số 6 (4 -6/1967) và số 11 (7 -9/1068) – Vụ Bắc sứ Canh Thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Đôn và bài trình bằng văn Nôm;

– Số 9 -10 (năm 1968) – Việt Thanh chiến sử – theo Ngụy Nguyên một sử gia đời Thanh (Càn Long chinh vũ An Nam ký – năm Đạo Quang thứ 22 – 1842);

–  Số 13 (1-3/1969); Số 14 -15 (4-9/1969); Số 16 (10-12/1969) – Kỷ niệm chiến thắng xuân Kỷ Dậu – Đống Đa – ”Bắc hành tùng ký”;

– Số 17-18 (1-6/1970) – Đồ biểu đối chiếu lịch xưa và công lịch;

– Số 21 (1-3/1971); Số 22 (4-6/1971); Số 25 (1-3/1973) –  Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập ”Lữ trung ngâm”;

– Số 23-24 (7- 12/1971) – Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt;

– Số 26 (1-3/1974); Số 27 -28 (7-12/1974) – Kỷ niệm 300 năm ngưng chiến Nam Bắc phân tích thời Trịnh Nguyễn (1673-1973);

– Số 29 (1-3/1975) – Quần đảo Hoàng Sa .

GS Hoàng Xuân Hãn đã viết 10 bài đăng trên 22 số Tạp san Sử Địa, bao gồm nội dung về lịch sử Việt Nam trung đại, hiện đại, với các hình thức biên dịch, khảo cứu, bình luận và hồi ký. Trong 10 bài viết đã công bố, có 01 bài Hồi ký, 01 bài về lịch pháp, còn lại 08 bài (chiếm 80%) đều viết về lịch sử trung đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII (01 bài viết về Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, 03 bài viết về thời kỳ Lê – Trịnh, 03 bài viết về Khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Huệ lãnh đạo, 01 bài viết về quần đảo Hoàng Sa). Với 10 bài số lượng đến 463 trang viết, bài dài nhất 93 trang: Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập ”Lữ trung ngâm”, bài ngắn nhất 13 trang: Quần đảo Hoàng Sa, đều là những bài nghiên cứu mẫu mực, tư liệu phong phú, phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại. Trong đó, phương pháp giám định, khảo cứu được GS sử dụng nhiều nhất, vì phần lớn các bài viết đều liên quan đến các tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Hiệu quả của phương pháp giám định, khảo chứng công phu mang tính khoa học, phát hiện, có sức thuyết phục cao đối với người đọc. Đây chính là phương pháp từng đem lại cho GS Hoàng những thành quả sử học to lớn, tiêu biểu như Lý Thường Kiệt, La Sơn phu tử, Lịch và Lịch Việt Nam…mà chúng ta – những người làm sử Việt Nam và các học giả nước ngoài khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam đều phải đọc qua và học hỏi được nhiều từ các tác phẩm này. Thành tựu sử học của GS Hoàng Xuân Hãn đã tạo cho Ông một vị trí tiên phong trong đội ngũ xây dựng sự nghiệp sử học hiện đại của nước ta ở thế kỷ XX như đánh giá của GS Phan Huy Lê ”Những thành tựu nghiên cứu sử học của GS Hoàng Xuân Hãn là một di sản quý của nền sử học và văn học Việt Nam. Bác là lớp người đi đầu trong việc xây dựng nền sử học hiện đại Việt Nam”[iv].

Ngay từ bài đầu tiên Những lời thề của Lê Lợi, người đọc phải ngạc nhiên và khâm phục trước cách đặt vấn đề và phương pháp giải quyết mang tính học thuật cao của tác giả. Trước hết, tác giả cho biết khi nghiên cứu về Những lời thề của Lê Lợi, chỉ có bản sao văn bản vào năm 1931 là “bản sao rất mới”. Sau đó bằng phương pháp giám định, khảo cứu văn bản, đối chiếu so sánh một cách kỹ càng, thận trọng, từ việc xác định năm soạn, niên hiệu triều đại, can chi, mục đích của lời thề…, tác giả đã đưa ra kết luận: bản ghi lời thề chữ Hán có gốc chân xác từ đời Lê Lợi[v]. Hoặc khi đọc những bài Vụ Bắc sứ Canh Thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Đôn và bài trình bằng văn Nôm hay Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập ”Lữ trung ngâm” hoặc Kỷ niệm 300 năm ngưng chiến Nam Bắc phân tích thời Trịnh Nguyễn (1673-1973), Kỷ niệm chiến thắng xuân Kỷ Dậu – Đống Đa – ”Bắc hành tùng ký”…người đọc có thể rút được nhiều tư liệu, những hiểu biết mới về lịch sử thế kỷ XVII -XVIII, về nội dung của một chuyến đi sứ: từ việc chuẩn bị văn thư, kinh phí, số lượng và quyền lợi người tham gia đoàn sứ…, về văn Nôm được sử dụng trong các công văn thế kỷ XVIII, có những tư liệu mới được phát hiện “mà không đâu có”[vi], bổ sung, cải chính cho các bộ sử… Thông qua bài Quần đảo Hoàng Sa, tác giả cung cấp một khối lượng tư liệu phong phú của thư tịch cổ Việt Nam do tư nhân và Nhà nước phong kiến biên soạn, cùng các ghi chép của các giáo sĩ phương Tây để đưa ra một chứng lý vững chắc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa…

Đặc biệt, qua những trang dịch thư tịch cổ trong các bài viết, chúng ta thấy được phẩm chất khoa học đáng quý của Hoàng Xuân Hãn, tất cả những phần dịch từ chữ Hán ra Việt văn đều được chú thích cẩn thận, rõ ràng đồng thời còn phụ thêm phần phân tích bối cảnh lịch sử, tiểu sử các nhân vật liên quan, những nhận xét khách quan của Hoàng tiên sinh khiến người đọc cảm thấy thích thú trước những phát hiện mới của Ông. Thí dụ: khi đọc những dòng viết biện giải về tên gọi của tác giả bộ Nam triều công nghiệp diễn chí vốn vẫn được phiên âm là Nguyễn Khoa Chiêm, GS Hoàng cho rằng phải đọc là Nguyễn Khoa Chiếm mới chính xác, vì tên tự là Bảng Trung, đều có nghĩa liên quan đến ý thi cử thi đỗ; chúng tôi rất đồng tình trước phát hiện mới này. Hoặc như trước khi dịch thiên Càn Long chinh vũ An Nam ký trong bộ Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên, GS Hoàng đã cho ta biết thái độ, tư tưởng cùng những sở thích của Ngụy Nguyên như: ”Nguyên, tính thích khảo cổ, lòng lo thời sự, lại được làm việc ở giữa ”bể chuyện cũ”. Vậy ta không hề ngạc nhiên biết y sưu tầm thư tịch quan tư, chép về triều Thanh”[vii]. GS Hoàng Xuân Hãn đã phân tích những điểm khả thủ cùng những khiếm khuyết của bộ Thánh vũ ký đối với sự thật lịch sử và đưa ra kết luận: ”Nói tóm lại, đối với cuộc Thanh Việt giao chiến, sách Thánh vũ ký đã ghi lại sự thật, nhưng cũng đã giấu một phần. Tuy không phải là người trực kiến những biến cố xảy ra, nhưng tác giả đã dùng và dùng trực tiếp những tài liệu đồng thời với sự kiện”[viii]. Với phương pháp nghiên cứu khoa học khá khách quan, thận trọng như vậy, các bài viết cùng những kết luận của GS Hoàng luôn khiến cho người đọc tin tưởng, có thêm nhiều thu hoạch hiểu biết mới.

Có thể nhận thấy, mỗi một bài viết, dịch thuật của Hoàng Xuân Hãn đều là những thành quả lao động nghiêm túc, mẫu mực để các học giả trong nước, ngoài nước, đặc biệt đối với những người trẻ tuổi đang trên con đường nghiên cứu học tập noi theo. Trong một bài viết ngắn này, bản thân chúng tôi như đã viết từ đầu: không dám và hoàn toàn không đủ trình độ để đánh giá về những công trình khoa học sáng giá của GS Hoàng Xuân Hãn, chỉ mong góp được một chút nhận thức nhỏ đối với ”một nhà sử học lớn – Người đi đầu của nền sử học Việt Nam”[ix].

 

[i] GS Phan Huy Lê: Lời giới thiệu tái bản Tập san Sử  Địa 1966 – 1975, tr.2. Đĩa CD do Viện Viễn đông Bác cổ Pháp thực hiện năm 2006.

[ii] Bài trả lời phỏng vấn TC Xưa&Nay của Ông Nguyễn Nhã, nguyên Chủ nhiệm Tập san Sử Địa. Đã dẫn: Đĩa CD do Viện Viễn đông Bác cổ Pháp thực hiện năm 2006.

[iii] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996), T.I: Con người và trước tác. Nxb.Giáo dục, 1998, H, Vũ Đình Hòe: Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử và nhóm Thanh Nghị, tr. 15-33.

[iv] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996), T.I: Con người và trước tác. Nxb.Giáo dục, 1998, H, GS.Phan Huy Lê ”Người đi đầu của nền sử học Việt Nam”, Sđd, tr.168 -170.

[v] Những lời thề của Lê Lợi (Văn Nôm đầu thế kỷ XV). Tập san Sử Địa, Số 2 (4-6/1966), tr.28.

[vi] Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập ”Lữ trung ngâm”. Tập san Sử Địa, Số 21 (1-3/1971), tr.3.

[vii] Tập san Sử  Địa, Sài Gòn, số 9, 10 (1968), tr.6.

[viii] Tập san Sử  Địa, Sài Gòn, số 9, 10 (1968), Sđd, tr.7.

[ix] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996), T.I: Con người và trước tác. Nxb.Giáo dục, 1998, H. Trích bài viết của GS.Phan Huy Lê: ”Người đi đầu của nền sử học Việt Nam”, Sđd, tr.168 -170.

 

Nguyễn Hữu Tâm

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ