Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Nguyễn Duy Hiệu với việc xây dựng Tân tỉnh Trung Lộc ở Nông Sơn

Ngược dòng lịch sử, vào những năm 1885-1887, nhân dân ở Quảng Nam tích cực hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, tham gia các phong trào chống Pháp. Thời gian này, Chánh sơn phòng Quảng Nam lúc bấy giờ là tiến sĩ Trần Văn Dư đã đứng ra thành lập Nghĩa hội và được mọi người tôn làm Hội chủ.

Nghĩa hội Quảng Nam dưới sự chỉ huy của Trần Văn Dư đã tổ chức các trận đánh chiếm thành La Qua (Điện Bàn), sơn phòng Dương Yên (Trà My) và nhiều nơi trong tỉnh. Sự phát triển lớn mạnh của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam làm cho giặc Pháp và bọn tay sai lo sợ.

Để đối phó với phong trào nghĩa hội, giặc Pháp tăng cường bố ráp, lùng sục để truy bắt những người cầm đầu phong trào. Tháng 11 năm 1885 (Ất Dậu), quân Pháp đã huy động một lực lượng hùng hậu cả về quân số và vũ khí và phương tiện chiến tranh cùng với quân Nam triều Đồng Khánh tiến đánh Sơn phòng Dương Yên. Nghĩa quân Nghĩa hội dưới sự chỉ huy của Trần Văn Dư đã lập nhiều phòng tuyến chống trả, chặn đường tiến quân của quân Pháp như Luỹ Đá Rồng, Truông Mua, Suối Đá… gây cho quân Pháp nhiều tổn thất  nặng nề. Thế nhưng, do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn mọi bề: lực lượng, vũ khí, lương thực…  sau một thời gian chống trả, cầm cự một cách anh dũng, kiên cường, nghĩa quân của Nghĩa hội đã bị thất thủ. Tiến sĩ Trần Văn Dư không may bị giặc Pháp bắt. Sau đó giặc Pháp ra lệnh cho quan đầu tỉnh đem ông ra xử chém vào ngày mồng 8 tháng 11 năm Ất Dậu (13/12/1885).

Sau khi Tiến sĩ Trần Văn Dư bị sát hại, kéo theo sự thất thủ của sơn phòng Dương Yên, phong trào Nghĩa hội Quảng Nam đặt dưới sự điều khiển của Phó bảng, Hồng lô tự khanh Nguyễn Duy Hiệu. Để có một nơi hiểm yếu chống cự lâu dài với giặc và làm nơi chiêu mộ, luyện tập nghĩa quân, lúc đầu Nguyễn Duy Hiệu chọn địa điểm Nghi Thượng (nay thuộc xã Quế Hiệp, Quế Sơn) làm căn cứ nhưng do địa thế bất lợi, ông quyết định chọn vùng thung lũng Trung Lộc (nay thuộc xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn) để xây dựng căn cứ đầu não của Nghĩa hội và căn cứ này được gọi là Tân tỉnh. Thung lũng Trung Lộc trải dài gần 10km từ chân đèo Le ra đến bờ sông Thu Bồn, nơi có bến chợ Trung Phước, một chợ đầu mối về lâm thổ sản. Bề ngang thung lũng chỗ rộng đến 2km, nơi hẹp nhất cũng hơn 1km, phần lớn đã được khai phá thành ruộng vườn. Ba phía đông, nam và tây là núi cao bao bọc như bước tường thành tự nhiên. Có đường bộ vượt qua đèo Le để lên Phú Cốc, Phú Bình và đường đi về phía tây qua Mộ Long lên Phước Sơn… Nguyễn Duy Hiệu đã xây dựng và tổ chức Tân tỉnh Trung Lộc với một bộ máy chặt chẽ, lực lượng nghĩa quân hùng mạnh như một lãnh địa riêng biệt. Khu căn cứ có doanh trại, có hào lũy, kho tàng ở lưng chừng núi để tránh lũ lụt, có văn miếu, bãi tập…, ở phía Bắc có nhà lao, pháp trường. Để xây dựng căn cứ Tân tỉnh ngày càng hoàn chỉnh, Nguyễn Duy Hiệu còn cho lập các cơ quan hành chính phụ trách việc binh, việc hình để phục vụ cho Nghĩa hội.

Tân tỉnh Trung Lộc được xây dựng vào đầu năm 1886 đến khoảng tháng 5/1886 thì cơ bản hoàn thành. Sở dĩ Trung Lộc được Nguyễn Duy Hiệu chọn làm nơi đóng căn cứ vì nơi đây có thể tiến quân đánh địch từ mọi phía, là vùng đất đắc địa để tổ chức phòng thủ để có thể chống trả được các cuộc tấn công từ mọi hướng của giặc Pháp và quân Nam triều vì có địa hình khá phức tạp với đồi, núi, sông, suối liền kề, lại gần tỉnh lộ 105 – là trục lộ chính nối liền miền xuôi và miền ngược, phía Đông và phía Tây… Nơi đặt căn cứ có địa thế hết sức thuận lợi do đóng nơi khô ráo, có khe nước phía trước và phía sau đủ cho một số lượng lớn nghĩa quân sử dụng quanh năm. Hơn nữa, vùng này lại giàu có về lâm khoáng sản, có thể khai thác mỏ để rèn đúc vũ khí. Thêm vào đó, nơi đây lại có đủ nguồn lương thực để duy trì việc nuôi quân chiến đấu lâu dài vì lúc đó vùng này là nơi buôn bán thịnh vượng, vùng lân cận có đồng ruộng và khu dân cư. Trong trường hợp bị bao vây có thể tự sản xuất lương thực tại chổ để phục vụ cho nghĩa quân…

Và điều quan trọng nhất để căn cứ Trung Lộc đóng quân và tồn tại ở nơi đây là nhờ vào lòng dân và sự ủng hộ hết mình của nhân dân, của các sĩ phu yêu nước vùng đất Trung Lộc nói riêng và các địa phương lân cận trên vùng đất Nông Sơn nói chung. Tinh thần yên nước chống thực dân Pháp và triều đình tay sai trong nhân dân được thể hiện rõ nét qua sự đóng góp sức người, sức của cho nghĩa hội và qua ý thức phòng gian, bảo mật trong nhân dân từ người già đến trẻ em. Nhân dân trong vùng và các vùng lân cận đã tích cực phòng gian bảo mật, xây dựng hệ thống phòng thủ trong thôn xóm, kiên quyết không đi lính, không làm tay sai cho Pháp. Các đội dân binh trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ trật tự trị an, thu thuế, vận chuyển lương thực vào Tân tỉnh. Ban đêm, nghĩa quân tổ chức canh gác bảo vệ căn cứ bên trong thì vòng ngoài dân binh thay nhau tuần tra bảo vệ xung quanh…

Tại căn cứ này, Nguyễn Duy Hiệu đã lãnh đạo phong trào nghĩa hội tổ chức phòng thủ đánh trả nhiều cuộc tấn công đánh vào căn cứ của giặc Pháp và quân triều đình. Đồng thời, Nguyễn Duy Hiệu dùng chiến thuật du kích tổ chức nhiều đợt tiến công địch ở khắp mọi nơi nhằm tạo thế chủ động và tạo điều kiện chiến đấu lâu dài. Từ căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc, nghĩa quân tiến công các thành tỉnh như Đà Nẵng, La Qua… cho đến các đồn lũy như Bãi Chài (Duy Xuyên), Nam Chơn, Hà Thân (Đà Nẵng), Gò Mùn, Hà Nha (Đại Lộc)…, xây dựng tuyến phòng thủ phía Bắc khu vực Phường Rạch (Quế Trung) và đèo Le (Quế Lộc) để bảo vệ khu căn cứ Tân tỉnh.

Trước sự lớn mạnh và tiến công rộng khắp của nghĩa hội, quyền Tuần phủ Quảng Nam lúc bấy giờ là Châu Đình Kế liên tiếp cấp báo về triều đình Huế cầu cứu với nội dung: “… Bọn giặc (tức nghĩa quân) quấy nhiễu bừa bãi, hai huyện Quế Sơn, Thăng Bình đều bị giặc đốt phá… Các phủ huyện Điện Bàn, Thăng Bình, Quế Sơn, Hà Đông, Duy Xuyên hằng tuần bị giặc đốt phá, toàn hạt Quảng Nam bị nhiễu loạn lớn…”. Trước tình hình đó, tháng 9/1887, triều đình Huế theo lệnh của quan thầy Pháp sai Nguyễn Thân từ sơn phòng Nghĩa-Định (Quảng Ngãi-Bình Định) đem quân ra phối hợp với quân của Phan Liêm và quân Pháp mở nhiều đợt tấn công vào các cứ điểm phòng ngự của Tân tỉnh Trung Lộc. Sau một thời gian chiến đấu kiên cường, dũng cảm dưới sự chỉ huy của Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bán Phiến nhưng do lực lượng địch quá mạnh với vũ khí tối tân của quân Pháp và sự âm mưu xảo quyệt của Nguyễn Thân, nghĩa quân Tân tỉnh không đủ sức chi viện cho các tuyến phòng thủ nên bị thất bại và tan rã sau những cuộc truy kích của quân triều đình ở An Lâm, Đại Đồng, Gò May (Phước Sơn), mở đầu cho giai đoạn suy vong của nghĩa hội và sự tan rã của căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc trên đất Nông Sơn…

Nhận thấy bước suy vong của Nghĩa hội là không thể tránh khỏi, Nguyễn Duy Hiệu đã bàn với phụ tá Phan Bá Phiến: “Nghĩa hội ba tỉnh, ông với tôi thật chủ trương. Việc đã không thể làm thì chỉ có chết mà thôi. Nhưng hai ta cùng chết một lúc là vô ích. Ông hãy chết trước. Phần tôi sẽ giải tán Hội, rồi đem thân mặc cho Pháp bắt. Người Pháp tra hỏi, tôi sẽ cực lực giải thoát cho Hội. Một mình tôi chết không đáng tiếc, còn Hội ta sau này có kẻ làm thành chí ta, tức là ta sống đó!”.

Trước đề nghị của thủ lãnh của phong trào, Phan Bá Phiến đã khẳng khái nhận lời, rồi lấy túi thuốc độc mang theo bên mình tự vận. Sau khi Phan Bá phiến chết, Nguyễn Duy Hiệu theo đường sông Trường Giang về lại quê nhà Thanh Hà (Hội An) để từ biệt mẹ già rồi cho người đi báo Nguyễn Thân đến bắt ông. Trước Hội đồng Viện Cơ mật của triều đình Đồng Khánh cũng như trước phái viên của Tòa Khâm sứ, Nguyễn Duy Hiệu chỉ cung khai sau trước một lời, nhận hết mọi trách nhiệm về mình: “Nghĩa hội Quảng Nam ở ba tỉnh, không dưới vài trăm, đều là những người có tên tuổi, nhưng cam tâm làm giặc duy chỉ có mình Hiệu mà thôi. Kỳ dư đều bị ép theo. Họ sợ bị thiêu hủy nhà cửa, không dám không theo, ngoài ra không có bụng gì khác. Vậy chém một mình Hiệu cũng đủ, chớ nhọc lòng hỏi tội những kẻ khác làm gì”. Biết không mua chuộc được Nguyễn Duy Hiệu, cuối cùng Viện cơ mật của Nam triều đã kết án tử hình ông vào ngày rằm tháng 8 năm Đinh Hợi (tức ngày 15/10/1887). Trước khi chết, ông đã để lại hai bài thơ tuyệt mệnh. Đặc biệt, trong bài thơ tuyệt mệnh thứ hai của Nguyễn Duy Hiệu có câu thơ cuối trở nên bất hủ: “Ký ngữ phù trầm tư thế giả? Hưu tương thành bại luận anh hùng”, sau này được Huỳnh Thúc Kháng dịch:

Chìm nổi trên đời ai đó tá ?

Chớ đem thành bại luận anh hùng !

Sau khi Nguyễn Duy Hiệu chết, phong trào nghĩa hội cũng tan rã, khu căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc đã không còn giữ được vai trò là căn cứ của nghĩa quân do bị giặc Pháp và quân Triều đình đánh chiếm, cày phá nhưng khí phách của Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, các vị chỉ huy và quân dân, nghĩa binh vùng Trung Lộc và các vùng lân cận trên đất Nông Sơn vẫn sống mãi trong lòng nhân dân, khơi dậy được tinh thần yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống sự bất công của chế độ phong kiến đương thời.

Cho đến hôm nay, theo vòng quay của thời gian và những thăng trầm của lịch sử; những cảnh cũ, người của căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc trên vùng đất Nông Sơn xưa kia đã đi vào dĩ vãng; làng xóm, ruộng vườn tại thung lũng Trung Lộc đã có nhiều đổi thay, chỉnh trang nhưng những chiến công vang dội, tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân tại căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc, những đóng góp về nhân tài, vật lực của nhân dân trong vùng vẫn còn được sử sách ghi nhận và được lưu truyền trong các thế hệ con cháu sau này… Hiện nay, khu căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc chỉ còn là một phế tích thuộc thôn Lộc Đông, xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn tuy vậy với những dấu tích còn lại vẫn có thể hình dung được phần nào căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc kiên cường xưa kia của Nghĩa hội Quảng Nam.

 

Mai Hồng Lâm 

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ