Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Giới thiệu sách : Nhà Lê sơ với công cuộc chống nạn “sâu dân, mọt nước”

Lâu nay, khi nghiên cứu về các triều đại đã qua trong lịch sử nước Nam ta, hầu hết giới sử học đều đánh giá, nhà Lê sơ (1428 – 1527) đã tạo lập được những thành tựu to lớn về nhiều mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Nhưng, như cha ông ta đã nghiệm “Ngọc còn có vết”, dù là triều đại thịnh trị, nhưng cũng như những triều đại trước đó và sau này trong sử nước, nhà Lê sơ vẫn phải đối mặt với một vấn nạn, góc khuất mang tính thời đại, đó là nạn tham nhũng.

Tham nhũng, hay nạn “sâu dân, mọt nước” đúng là “quốc nạn”, “nội nạn” của hầu hết các triều đại, các thể chế chính trị nào, và nhà Lê sơ cũng không phải là ngoại lệ. Lâu nay, công tác học thuật về thời Lê sơ, đa phần đi sâu vào những thành tựu về các mặt, nhưng lại rất ít, có thể nói là hiếm công trình nghiên cứu về những hạn chế, tồn tại của nhà Lê sơ. Tác phẩm Nhà Lê sơ (1428 – 1527) với công cuộc chống nạn “sâu dân, mọt nước” của tác giả Trần Đình Ba được nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành đầu năm 2016, có thể xem là một đóng góp lớn cho công tác nghiên cứu nhà Lê sơ, đặc biệt là ở vấn đề rất gai góc ít người khai thác, đó là nạn tham nhũng, lại là tham nhũng ở một triều đại thịnh trị, và công cuộc phòng chống vấn nạn đó cùng hiệu quả của nó.

Qua tác phẩm này, ta được biết quá trình phát triển của nhà Lê sơ chia làm hai giai đoạn cơ bản. Giai đoạn đầu tiên tương ứng với thời vua Lê Thái Tổ (1428 – 1433) cho đến hết thời trị vì của vua Lê Túc Tông (1504), chiếm ¾ thời gian tồn tại của nhà Lê sơ. Đây là thời kỳ nhà Lê sơ phát triển tới cực thịnh. Giai đoạn thứ hai tương ứng với thời vua Lê Uy Mục (1505 – 1509) và kết thúc thời vua Lê Cung Hoàng (1522 – 1527), chiếm ¼ thời gian tồn tại của nhà Lê sơ. Giai đoạn này đánh dấu sự suy yếu của nhà Lê sơ, kết quả cuối cùng là ngai vàng triều đại kết thúc năm Đinh Hợi (1527). Hai giai đoạn đó, cũng đồng thời tương ứng với hiệu quả của những biện pháp đấu tranh với nạn tham nhũng thời Lê sơ. Giai đoạn đầu tiên công tác phòng, chống và xử lý nạn tham nhũng đạt hiệu quả cao. Giai đoạn sau hiệu quả giảm dần, nạn tham nhũng hoành hành công khai, góp phần vào sự sụp đổ của triều đại khởi nghiệp đất Lam Sơn.

Trước khi đi vào chi tiết vấn nạn tham nhũng thời Lê sơ, sách làm rõ quan điểm về tham nhũng thời Lê sơ, từ đó minh định cho độc giả so sánh quan điểm tham nhũng thời xưa và thời nay. Đồng thời, tác giả đã dành hẳn chương I để “Khái quát về nạn tham nhũng và biện pháp xử lý tham nhũng trước thời Lê sơ”. Bức tranh về nạn “sâu dân, mọt nước” từ thời Bắc thuộc cho tới kỷ thuộc Minh được tác giả phục dựng qua những sử liệu hiện có. Ta thấy được ở đó, nhiều vụ tham nhũng lớn trong thời Lý như Từ Văn Thông nhận của đút từ vợ vua Lý Thần Tông năm Mậu Ngọ (1138), dẫn tới sau có việc thay đổi di chiếu, hay Vũ Đái nhận vàng của Lê Thái hậu năm Canh Ngọ (1150) mà không giết quyền thần Đỗ Anh Vũ… rồi thời Trần có Đỗ Tử Bình “ăn” 10 mâm vàng của vua Chiêm Thành đến nỗi hai nước xảy ra chiến tranh năm Đinh Tỵ (1377)… đã trực tiếp làm ngả nghiêng vận nước, suy yếu triều đại.

Bên cạnh đó là việc điểm qua những biện pháp phòng, chống tham nhũng mà một số triều đại đã thực hiện cùng mức độ hiệu quả của nó. Qua đó, ta biết được ngay từ thời Lý đã có việc định luật lệ xử tội tham nhũng. Hay thời vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) đã có loại “tiền dưỡng liêm” cho quan xử án, hoặc lần đầu tiên có việc quy định phẩm hạnh, sự liêm khiết trong tiêu chí chọn quan lại thời vua Lý Cao Tông năm Kỷ Hợi (1179); rồi thời Trần đã thực hiện việc xét duyệt quan lại với thời gian 15 năm tiến hành một lần… Những biện pháp chống tham nhũng ấy, về sau đều được kế thừa và phát triển thời Lê sơ.

Bước qua “Chương II: Nạn tham nhũng thời Lê sơ”, với việc gạn lọc sử liệu, bức tranh màu xám về nạn “sâu dân, mọt nước” thời Lê sơ được tác giả tái hiện khá rõ ràng, chi tiết với những số liệu, những thống kê, phân tích đánh giá rạch ròi. Đối tượng tham nhũng được điểm mặt, chỉ tên qua những vụ việc tham nhũng cụ thể và đa phần trong số ấy là những kẻ nằm trong bộ máy công quyền, từ kẻ giữ cửa vị trí thấp kém cho tới quan đại thần quyền cao chức trọng như Thái úy Lê Thụ, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Vĩnh Tích… Và tham nhũng hiện diện hầu khắp các lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa – giáo dục cho đến tư pháp, quân đội. Hình thức tham nhũng cũng được vạch ra từ việc lấy tiền bạc là phương tiện, cho tới việc dựa quyền, dựa thế để “ăn tiền”, hoặc “tham nhũng tâm linh” trong tôn giáo, dùng thời gian, nhân lực công để làm lợi riêng cho bản thân…

Nguyên nhân dẫn tới vấn nạn tham nhũng cũng được chỉ ra với những sai lầm, hạn chế vừa khách quan, vừa chủ quan trong chính sách tuyển dụng, sử dụng, giám sát quan lại chưa quy củ, hợp lý; hiệu lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước chưa cao, và trình độ, phẩm chất của một bộ phận quan lại còn yếu. Lẽ dĩ nhiên, nạn “sâu dân, mọt nước” đã trực tiếp đem lại những hậu quả lớn cho nhà Lê sơ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự thịnh suy của triều đại khi một bộ phận quan lại bởi tham nhũng mà tha hóa, biến chất, lòng tin của nhân dân vào chính quyền bị giảm sút, thể chế chính trị dần bị suy yếu.

Ở “Chương III: Biện pháp xử lý nạn tham nhũng của nhà Lê sơ”, qua việc gạn lọc sử liệu, tác giả đã chứng minh cho những nỗ lực đáng kể của nhà Lê sơ trong việc phòng chống tham nhũng. Bởi rõ ràng đây là quốc nạn nguy hiểm, chính quyền phải “chăm chắm roi vọt răn đe, ngăn ngừa tư thông đút lót”. Các biện pháp xử lý tham nhũng được thực hiện song hành, đồng bộ với nhau, từ việc quy định thành luật lệ, điển chế, rồi xác định nhiệm vụ, quyền lực của tổ chức, cá nhân giám sát quan lại, cho tới những biện pháp phòng xa như chọn quan lại qua thi cử, tiến cử, bảo cử, thanh lọc đội ngũ quan viên qua việc luân chuyển, sắp xếp và khảo hạch năng lực… Lại để cho đội ngũ ăn lộc nước này không thái hóa, biến chất, “túng làm liều”, nhà nước đã có chế độ đãi ngộ cả về bổng lộc, tước vị cho quan lại, có biện pháp thưởng phạt công minh với người có công chống tham nhũng, kẻ có tội ăn hối lộ.

Một bức tranh tổng quan về nạn tham nhũng được phục dựng, cho thấy đây là một vấn nạn nguy hiểm cho chính quyền thời Lê sơ. Nhưng tác giả cũng đã khẳng định rõ “đặt vấn nạn này trong bối cảnh chung của xã hội thời Lê sơ với những vấn đề thực tiễn về kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội, thì bức tranh toàn cảnh về vấn nạn này không thể làm lu mờ đi những thành tựu đạt được dưới triều đại do vua Lê Thái Tổ xây nền”. Điều đó cho thấy, những biện pháp phòng, chống và xử lý tham nhũng thời Lê sơ đã có tác dụng đáng kể trong việc ngăn ngừa, hạn chế nạn “sâu dân, mọt nước”. Cũng qua sách, chúng ta biết được vị “trư vương” Lê Tương Dực lại là vị vua có rất nhiều văn bản thể hiện quyết tâm đối với việc chống tham nhũng, nhưng hành động bất nhất. Còn vua Lê Thánh Tông, là vị vua đã thực hiện công tác phòng chống tham nhũng rất hiệu quả, lại sáng tạo nên biện pháp bảo cử trong tuyển chọn quan lại và kế thừa, hoàn thiện nhiều biện pháp phòng, chống tham nhũng của tiền nhân.

Thiết nghĩ, cuốn sách không chỉ có giá trị nghiên cứu về một mặt trái của thời Lê sơ, mà những phân tích, đánh giá khoa học về nguyên nhân, hậu quả của vấn nạn ấy, cùng những biện pháp xử lý của Nhà nước Lê sơ, sẽ là bài học không hề cũ cho thể chế chính trị ngày hôm nay soi rọi và gạn lọc ở đó những điều hay, lẽ phải.

Đông A

 

Ngày đăng 15.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ