Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Di tích Phan Thanh Liêm ở Huế

 

Phan Thanh Liêm 潘清蘝, hay còn gọi là Phan Liêm(1), tự Thúc Thanh, biệt hiệu Lan Nông. Ông sinh ngày 29 tháng 8 năm Quý Tỵ, Minh Mạng thứ 14, nhằm ngày 12 tháng 10 năm 1833(2). Con ông Phan Thanh Giản (1796-1867) và bà Trần Thị Hoạch (1797-1862). Phan Thanh Giản làm đến chức Hiệp biện Đại học sĩ, cuối đời vì để mất ba tỉnh miền Tây nên ông tuyệt thực và tự vẫn(3), trước khi mất ông cặn dặn ba người con(4) như sau: “Mấy bộ sách của ta để lại, đó là sự nghiệp quý báu. Chúng bây phải gìn giữ, ráng học thành và đừng làm một chức quan quyền gì hết. Anh em nên ăn ở thuận hòa, nhứt là phải thương mến quê hương thân tộc.”(5) Đến năm 1868, sau khi an táng cha được ba tháng, Phan Liêm cùng em là Phan Tôn(6) , chiêu tập những người đồng chí hướng ở Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc để cùng đánh đuổi thực dân Pháp. Nhưng do tương quan với lực lượng Pháp quá lớn, nên thất bại, hai ông vượt biển trốn ở Bình Thuận rồi ra Huế. Sau đó hai ông theo Nguyễn Tri Phương ra giữ thành Hà Nội. Đến ngày 20 tháng 11 năm 1873 thành Hà Nội thất thủ, Tổng trấn Nguyễn Tri Phương bị bắt cùng với một số quan lại giữ thành, trong đó có cả hai anh em họ Phan. Chúng đưa hai ông cùng một số người bị bắt khác vào Sài Gòn, sau đó sang Pháp theo lệnh của Bộ trưởng Hải quân Pháp. Một thời gian sau, thực dân Pháp trao trả hai anh em ông về nước và giao cho triều đình Huế. Lúc này hai anh em Phan Liêm và Phan Tôn ra làm quan dưới triều đình Huế.

Năm Tự Đức thứ 34 (1881), theo Quốc triều toát biên chánh yếu Phan Liêm đã mật trình lên vua một biểu đề ra một số cải cách về giáo dục, thông thương, khai mỏ để mở mang kinh tế đất nước: “Hàn Lâm viện tu soạn Phan Liêm mật tâu các việc như là: mở thưởng cuộc hợp vốn đi buôn, mở các mỏ, học tập tiếng nói và kỹ nghệ cơ xảo ngoại quốc. Ngài khiến Cơ mật duyệt lại. Rồi Cơ tâu: “khoản khai thương không tiện, còn các khoản kia xin tư các tỉnh hiểu xét, có ai xin đi mở mỏ và đi học thời tâu về sẽ nghĩ. Ngài ban rằng: kẻ lão thành lo việc nước, chẳng việc gì là chẳng xét kỹ, nhưng nên làm thế nào cho ngày càng tấn tới thời tấp phải lui”(7).

Năm 1886, dưới triều Đồng Khánh, ở tỉnh Thanh Hóa có vụ âm mưu bạo động của trên 300 người đánh lén vào thành. Việc bị phát giác, những người dự định bạo động phải trốn chạy. Nhà vua sai Phan Liêm ra đó với chức Khâm sai đại thần để ổn định tình thế(8).

Dưới các triều Đồng Khánh và Thành Thái, ông đã từng giữ chức Thị vệ Đại thần. Ông qua đời vào ngày 15 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8, nhằm ngày 21 tháng 10 năm 1896(9), an táng ở Huế và được truy tặng Thượng thư bộ Binh.

Hiện nay lăng mộ của Phan Thanh Liêm tọa lạc bên phải chếch về phía sau chùa Tra Am(10), thuộc địa phận phường An Tây, thành phố Huế. Đây là một trong những ngôi mộ cổ có niên đại hơn trăm năm nằm trong khu vực này. Ngôi mộ được xây dựng bằng vôi vữa, đơn sơ không cầu kỳ, hiện trạng nay vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Phía trước ngôi mộ có bức bình phong cao 1.05m, rộng 1.5m; từ bình phong có lối dẫn đi vào dài 3m, rộng  0.8m đến nhà bia cao 1.3m, dài 0.85m, rộng 0.75m. Bên trong có ngôi mộ hình bát giác bằng đất cao 0.5m được bao quanh bởi thành bằng vôi cao 0.25m, với diện tích chừng 6m2. Ngôi mộ và nhà bia được bao quanh bởi một la thành cao từ 0.8m đến 1.5m, thành dày 0,3m. Bên trong nhà bia có một tấm bia hình chữ nhật, được làm bằng đá Thanh, trán bia khắc hình lưỡng long chầu bát quái, viền bia và tai bia chạm hình hoa lá; bia cao 0.84m, rộng 0.39m; lòng bia cao 0.47m, rộng 0.3m, khắc 580 chữ Hán, trong đó bao gồm cả chính văn, bài minh và lạc khoản. Bia được khắc vào năm Thành Thái thứ 11 (1899) do một người bạn làm quan cùng thời với Phan Liêm là Tham tri sung Nội Các Bùi Quang Tạo soạn.

Qua bài văn bia chúng ta có thể thấy được một vài nét về tình hình chính trị xã hội dưới thời Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái. Bên cạnh đó còn mô tả rõ nét tính cách cương trực, phẩm hạnh thanh khiết, và là một vị quan thanh liêm. Giúp cho người đọc phần nào hiểu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Liêm.

Dưới đây là toàn bộ nội dung bài văn bia gồm nguyên văn, phiên âm và dịch nghĩa:

Nguyên văn

吾友潘公蘭農既亡之三年其子焞恪來請銘嗚呼如公者非獨其善可銘又有朋友之諠兄弟之交則道公之善而并附公以傳蓋有不可得而辭者公家世貴仕而少被服儉素操履方潔天懷友愛與人交久而不衰嗣德二十四年奉蠟旨來京翼尊英皇帝嘉其有才有學大臣竹堂范公珠江裴公亦屢進其能聲名籍甚成泰元年予重遊京師領少尹得與同城公每以仲呼之予兒偲公撫之如予其爲政長於治民兩次京兆民者和商者悅好事者嘗於香江月夜具饌舟中招公飮浙陂養蒙相爭江界幾三十年公至申定界碣各各悅服至於今止訟人言公衹消於小梅簃便足以了公事閱鐘琴詩集浮洋日記知公之閥閱之器識自李方没後無復宦情而忠孝深心未嘗少置成泰七年以史部參知充管領侍衞大臣在職纔七八月間諫疏滿篋朝廷多其直八年駕幸海雲關公輿疾扈從途間欽賜回寓服藥九月十五日卒享齡六十四天子惜之三宮憫之迨授兵部尚書賜祭頒賜銀錢數千保護國與廷臣會助葬公素清無家所居乃清客棧也公之先曰道安號籍渠曾祖也文彥號梅埜皇祖也明命丙戌科進士官至協辨號梁溪皇考也曾祖妣黃氏平定人祖妣林氏廣義人顯妣陳氏廣治人子女九焞恪國學助教焞愷業農焞憪午科秀才早逝氏琉未字餘早殤夫人阮氏諱瑛嘉定人如夫人范氏良合公諱菘後改簾字叔青別號籣農其上世曾祖以來家永隆而塟於南中今公寓在京城東嘉橋初塟安舊之原銘曰:

嗟嗟夫子質厚材良

與世相接苟余信芳

梅岡何處牛渚何方

屛山之側五峰之陽

爲芝爲松其靈其長

成泰十一年夏

契第參知充內閣文陶子裴光造拜撰

Dịch nghĩa

Bạn của tôi là Phan Lan Nông, đã mất cách đây 3 năm, có con là Đôn Khác đến xin bài văn để khắc bia. Than ôi! như ông chẳng phải chỉ có tài giỏi mới đáng khắc bia, mà còn cái tình bằng hữu, tình giao kết anh em, cùng những cái tài giỏi đó của ông gộp lại để lưu truyền. Cho nên không thể từ chối vậy. Ông gia thế quan sang, nhưng ăn mặc bình dị, phẩm hạnh thanh khiết, lòng trời thương mến, kết giao cùng mọi người mãi không phai nhạt. Năm Tự Đức thứ 24 (1871), phụng mệnh về kinh, Dực Tôn Anh hoàng đế khen ông có tài, có học. Đại thần Trúc Đường họ Phạm(11) cùng Châu Giang họ Bùi(12) đã nhiều lần tiến cử năng lực của ông, thanh danh lừng lẫy. Năm Thành Thái nguyên niên (1889), ta lại về kinh sư, nhận chức Thiếu Doãn(13), được cùng trông coi một thành với ông. Ông mỗi lần hô to, làm cho con ta sợ hãi, thì ông đành vỗ về như chính ta vậy.

Về mặt chính trị, ông hai lần cai quản dân xứ kinh kỳ, làm cho dân chúng hòa thuận, thương nhân hớn hở. Những kẻ hay chuyện thường bày lễ vật trong thuyền dạo trên sông Hương vào đêm trăng để mời ông cùng thưởng thức. Hai làng Chiết Pha và Dưỡng Mông tranh nhau giới phận trên sông đã gần 30 năm, ông đến phân định cột mốc bằng đá, làm cho mọi người đều vui vẻ phục tùng, và đến nay đã hết kiện tụng. Người ta thường nói ông chỉ cần dùng một nét nhỏ của Mai Di(14) cũng đủ giải quyết xong việc công. Đọc Chung Cầm thi tập, Phù Dương nhật ký(15), mới biết rõ được công trạng và tài năng học thức của ông. Từ sau khi Quý Phương(16) qua đời, ông không còn muốn làm quan nữa, nhưng trong thâm tâm của ông, tấm lòng trung hiếu vẫn chưa hề dứt bỏ. Năm Thành Thái thứ 7 (1895), ông giữ chức Tham tri bộ Lại sung quản Thị vệ đại thần, đương chức vừa được chừng bảy, tám tháng thì sớ can ngăn đã chứa đầy tráp, ông cũng nhiều lần bày tỏ sự thẳng thắn giữa triều đình. Đến năm thứ tám (1896), hoàng thượng đi tuần thú Hải Vân quan, ông dù bệnh nhưng vẫn cố theo hầu, đến giữa đường thì vua cho quay về để điều trị. Đến ngày 15 tháng 9 thì qua đời (nhằm ngày 21 tháng 10 năm 1896), hưởng linh sáu mươi bốn tuổi. Nhà vua rất thương tiếc, tam cung thì đau xót, truyền tặng chức Thượng thư bộ Binh, ban tế và cho mấy nghìn tiền, chính quyền bảo hộ và đình thần đều đến trợ tang. Ông sống trong sạch, không có nhà ở, phải ở quán trọ của một người Hoa.

Về tổ tiên của ông, cụ cố là Đạo An, hiệu Ngẫu Cừ(17); ông nội tên là Ngạn, hiệu Mai Dã(18); cha là tiến sĩ khoa Bính Tuất dưới triều Minh Mạng (1826), làm quan đến chức Hiệp biện, hiệu Lương Khê(19). Bà cố họ Hoàng(20), người Bình Định; bà nội họ Lâm(21), người Quảng Ngãi; mẹ họ Trần(22), người Quảng Trị. Ông có chín người con trai và gái; Đôn Khác làm trợ giáo tại trường Quốc Học; Đôn Khải làm nghề nông; Đôn Nhàn(23), tú tài năm Ngọ, nhưng mất sớm; Thị Lưu chưa lấy chồng; ngoài ra đều mất sớm. Chính thất là Nguyễn Thị Anh, người Gia Định; thứ thất là Phạm Thị Lương Hợp. Ông tên Tòng, sau đổi thành Liêm, tự Thúc Thanh, biệt hiệu Lan Nông. Đời trước từ tằng tổ về sau, nhà ở Vĩnh Long, mộ táng trong Nam, nay ông cư ngụ bên cầu Đông Gia(24) ở kinh thành, mộ táng tại xứ An Cựu.

Minh rằng:

Than ôi phu tử, tư chất giỏi giang

Với đời giao tế, tín nghĩa lưu truyền

Gò Mai nơi đâu ? Bến Nghé phương nào ?

Bên núi Ngự Bình, bên núi Ngũ Phong.

Làm thông làm cỏ, linh hiển trường tồn

 

Mùa hè năm Thành Thái thứ 11 (1899)

Người bạn nhỏ tuổi là Tham tri sung Nội Các Văn Đào Tử Bùi Quang Tạo bái soạn.

 

Chú thích :

(1) Trước đây ông còn có tên Phan Thanh Tòng.

(2) Nguyễn Duy Oanh (1974), Chân dung Phan Thanh Giản, Nxb Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn, tr.16.

(3) Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả cho triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm trọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi.

(4) Gồm Phan Hương, Phan Thanh Tòng và Phan Thanh Tôn.

(5) Nguyễn Duy Oanh (1974), Chân dung Phan Thanh Giản, Nxb Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn, tr.266.

(6) Phan Thanh Tôn (1837-1893), tên chữ là Thuyên, tự Quý Tương, thường gọi Phan Tôn, con thứ năm trong gia đình, nên dân chúng quen gọi là cậu Năm. Ông có hai người con trai tên là Phan Đôn Để và Phan Đôn Tuấn. Hiện nay, cách mộ Phan Liêm chừng 2.5m phía bên trái có một ngôi mộ mà chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là mộ của người em Phan Tôn (do hiện chúng tôi chưa đủ cứ liệu để xác định rõ đây chính xác là mộ của ai). Kiến trúc ngôi mộ giống như lăng mộ của Phan Liêm, nhưng quy mô nhỏ hơn và không có văn bia.  Mộ chí như sau: Chữ Hán: 大南堂枚秀才芋沙潘静香書生之墓. 侄增紹增紀等拜立. 戊申年孟秋吉日造. Phiên âm: Đại Nam Đường Mai tú tài Vu Sa Phan Tĩnh Hương thư sinh chi mộ/ Điệt: Tăng Thiệu, Tăng Kỷ đẳng bái lập/ Mậu Thân niên, mạnh thu cát nhật tạo. Dịch nghĩa: Mộ của thư sinh Vu Sa Phan Tĩnh Hương đỗ tú tài người Đường Mai, nước Đại Nam/ Cháu (cháu gọi cụ Tĩnh Hương là chú bác): Tăng Thiệu, Tăng Kỷ cùng con cháu phụng lập/ Xây dựng vào ngày tốt tháng 7 năm Mậu Thân (1908). (Chúng tôi hiện vẫn chưa xác định rõ danh xưng Đường Mai là ở đâu.)

(7), (8) Cao Xuân Dục chủ biên (1908), Quốc triều chánh biên toát yếu, Quốc sử quán triều Nguyễn, tr.206, 220. Bản sách điện tử.

(9) Căn cứ vào văn bia trên lăng mộ của Phan Liêm.

(10) Chùa Tra Am do người dân Huế đọc không quen chữ Tra Am nên đọc trại thành chữ Trà Am lâu ngày thành quen mà quên mất nó vốn tên là Tra Am. Chùa Tra Am do sư Viên Thành lập nên vào năm 1923, tọa lạc tại thôn Từ Tây, thuộc phường An Tây, thành phố Huế.

(11) Phạm Phú Thứ 范富恕 (1821–1882), trước tên là Phạm Hào (khi đỗ Tiến sĩ, được vua Thiệu Trị đổi tên là Phú Thứ), tự Giáo Chi, hiệu Trúc Đường, biệt hiệu Giá Viên; là một đại thần triều nhà Nguyễn, và là một trong số người có quan điểm canh tân nước Việt Nam trong những năm nửa cuối thế kỷ 19.

(12) Bùi Văn Dị 裴文異 (1833-1895), còn được gọi là Bùi Dị, tự Ân Niên 殷年, các tên hiệu Tốn Am 遜庵, Do Hiên 輶軒, Hải Nông 海農, Châu Giang 珠江; là nhà thơ, nhà giáo và là một đại thần trải qua 7 đời vua Nguyễn: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái.

(13) Thiếu Doãn là chức quan để giúp việc cho Phủ Doãn, tương đương hàm chánh ngũ phẩm.

(14) Có lẽ rằng, người viết muốn chỉ đến một cư sĩ nổi tiếng, người Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc, không rõ năm sinh năm mất, sống vào thời nhà Thanh. Ông tên Tiền Thụ 錢樹, tự Bảo Đình寶庭, hiệu Mai Di 梅簃. Ông là người giỏi binh pháp, kinh điển, nghiên cứu khoa học xã hội và triết học. Tác phẩm của ông nay còn Kinh thế đại điển cảo 经世大典稿, Cổ tịch khảo 古籍考, Phản đàn Tỳ Bàn Hành 反弹琵琶. Trích dẫn tại website:   http://baike.baidu.com/subview/226862/7039653.htm.

(15) Hai tác phẩm Chung Cầm thi tập và Phù Dương nhật ký nay chưa tìm thấy.

(16) Có lẽ là người em trai Phan Tôn, tự Quý Tương mà tác giả đã viết nhầm thành Quý Phương. Phan Tôn mất năm 1893, sau đó 3 năm (1896) thì Phan Liêm qua đời.

(17) Phan Thanh Tập (1730-1790) ông sống tại ấp Hội Trung, xã Ô Liêm, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định. Vùng này thường được dân chúng gọi là Bàu Sen. Năm Canh Dần triều Lê Cảnh Hưng (1770), ông trốn quân Tây Sơn chạy xuống phía Nam và ngụ tại xã Thang Trông, tỉnh Định Tường rồi Mân Thít, tỉnh Vĩnh Long, sau đó dời qua định cư tại xã Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình (nay thuộc Vĩnh Long). Ông Tập có sáu người con, ba trai và ba gái, Phan Thanh Ngạn là người con trai thứ ba.

(18) Phan Thanh Ngạn (hay Xán, tự Văn Ngạn) sinh năm 1768, ông có cả thảy 4 vợ và sinh được 10 người con. Phan Thanh Giản là con cả. Ông mất ngày 13 tháng 6 năm 1842, chôn ở bãi Cọp (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long), thọ 75 tuổi.

(19) Phan Thanh Giản tự Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại Bến Tre, làm quan đến chức Hiệp biện Đại học sĩ. Ông mất năm 1867 dưới thời Tự Đức. Ông có ba vợ và cả thảy bảy người con (sáu trai và một gái). Phan Liêm là người con trai thứ ba.

(20) Tên là Hoàng Thị Học

(21) Tên là Lâm Thị Búp, sinh năm Bính Thân triều Cảnh Hưng (1776), mất năm Gia Long nguyên niên (1802) khi đó Phan Thanh Giản mới 7 tuổi. Mộ chôn ở Phú Ngãi, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

(22) Tên là Trần Thị Hoạch tự Cúc (1797-1862). Người làng Đơn Duệ, Địa Linh, Quảng Trị (nay là làng Đơn Duệ, xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh).

(23) Có lẽ chỉ người con trai thứ ba của Phan Thanh Giản là Phan Thanh Đàm.

(24) Cầu Đông Gia : còn gọi là cầu Đông Ba, nằm sát phía đông của kinh thành Huế.

 

Lê Văn Thi

 

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ