Logo of XuaNay
Hội khoa học lịch sử Việt Nam Tạp chí xưa và nay

Đàn xã tắc triều Nguyễn

Việt Nam là một trong những nước có nền nông nghiệp sớm nhất. Cũng chính vì thế mà từ vua cho đến dân đều lấy đất đai làm trọng, lấy ngũ cốc làm gốc của nền kinh tế. Cho nên bất cứ triều đại nào khi lên nắm chính quyền đều cho lập lại hai cái đàn. Cái thờ trời gọi là đàn Nam Giao, cái thờ đất và ngũ cốc gọi là đàn Xã Tắc (社 稷 壇). Theo sử sách cũng như theo sự giải thích của các bộ từ điển thì từ xã tắc do hai từ tổ xã (社) và tắc (稷)ghép thành. Xã là một vị thần lớn nhất trong ngũ thần coi về đất đai, còn tắc tức là lúa tắc, thứ lúa cao, cây dài đến hơn một trượng, là một giống lúa chín sớm nhất, ngày xưa cho là thứ lúa quý nhất trong trăm giống lúa. Do đó xã tắc có tương quan mật thiết với nhau, lập đàn Xã Tắc là để tế chung cả thần đất và thần lúa mà theo truyền thuyết của Trung Hoa đó là Thần Nông, vị vua dạy cho dân vỡ đất trồng lúa để ăn. Các vua chúa Việt Nam vì chịu ảnh hưởng lâu đời của nền văn hóa Trung Hoa, nên khi thành lập vương triều, việc trước tiên là lập đàn Xã Tắc ở Kinh đô để tế thổ thần và cốc thần.

Xã tắc rất quan trọng, một nước bị thay đổi, bị diệt vong thì xã tắc cũng bị đổi dời. Vì thế, ngay từ xưa, từ xã tắc cũng có nghĩa là non sông đất nước hay vắn tắt là quốc gia, tổ quốc, thành ngữ “sơn hà xã tắc” 山 河社 稷chính là muốn diễn đạt ý niệm trên.

Cũng chính vì hiểu như thế nên sau khi thống nhất đất nước vua Gia Long đã cho đắp đàn Xã Tắc ở phường Thuận Hòa bây giờ (trước gọi là phường Ngưng Tích sau đổi là phường Thuận Cát):

“Tháng 3, ngày Đinh tỵ, bắt đầu dựng đàn Xã Tắc (ở bên hữu Hoàng  thành); sai các thành và dinh trấn đều phải cống đất địa phương để đắp. Đàn làm hai tầng. (tầng thứ nhất cao 2 thước, vuông mỗi chiều 15 trượng; tầng thứ 2 cao 1 thước 5 tấc, vuông mỗi chiều 29 trượng. Chu vi hai tầng đều có lan can, ngoài trồng cây, xây tường chung quanh). Tầng thứ nhất để tế thần Thái xã, Thái tắc (đều hướng về bắc), bên hữu phối thờ thần Hậu thổ Câu Long thị, bên tả phối thờ Hậu Tắc thị (đông tây hướng vào nhau); tầng thứ hai thì phía tây bắc đặt sở ế Khảm. Sai Chưởng quân Phạm Văn Nhân trông coi công việc. Rồi sai bộ Lễ bàn định về phép thờ tự, mỗi năm cứ ngày mậu về tháng trọng xuân và trọng thu thì tế. (Tháng trọng xuân thì ngày mậu sau ngày tế Nam giao, tháng trọng thu thì ngày mậu đầu tháng)”.

Đất dùng để đắp đàn là dùng đất ngũ sắc, sắc đất theo từng phương (có nghĩa là ở giữa đàn đắp đất sắc vàng, phương đông đắp đất sắc xanh, phương Tây thì đất sắc trắng, phương nam thì đắp đất sắc đỏ, phương bắc đắp đất sắc đen). Chung quanh xây lan can, khu đất vuông ngoài đàn trồng cây thông, cây xoài và cây mù u, ngoài cùng xây tường đá, chu vi 200 trượng, bốn mặt đều có cửa linh tinh, phía trước đàn đào hồ vuông.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi chép lại vị trí và quy mô của đàn Xã Tắc như sau: “Đàn Xã Tắc ở phường Ngưng Tích phía Tây Nam trong kinh thành, hướng bắc, hai tầng, hình vuông. Tầng thứ nhất cao 4 thước chu vi 28 trượng, mặt nền nề 5 sắc, giữa sắc vàng, đông sắc xanh, tây sắc trắng, nam sắc đỏ, bắc sắc đen, giữa để 32 hòn tảng cắm tàn; bốn bên có bệ ra, bệ bên bắc 11 bậc, bệ bên đông, bên tây, bên nam đều 7 bậc được xây bằng đá. Tầng thứ 2 cao 2 thước 9 tấc, chu vi 69 trượng 2 thước, mặt trước nền gạch, xây 2 hòn tảng đều cắm tàn; bốn bên có bệ ra,  bệ có 5 bậc đều xây bằng đá; các cột lan can, ván lan can đều xây bằng gạch có con sông. Tầng thứ nhất trát vàng, tầng thứ 2 trát đỏ, đều cao 2 thước 2 tấc, dày 7 tấc. Tường thấp ở ngoài, bên nam bên bắc 50 trượng 5 thước, bên đông bên tây 40 trượng 5 thước, giữa trồng cây thông, cây xoài, cây nam mai bao bằng tường đá, cao 2 thước 9 tấc, dày 1 thước 9 tấc, phía bắc làm 3 cửa phường, cột gạch, dưới chân có đóa hoa sen; phía đông, phía tây; phía nam đều 1 cửa cột gạch, cửa thông không có cánh ngoài tường, bốn mặt có đường vuông, rộng 3 trượng. Ở mặt sau, ngoài đường vuông xây 1 bức bình phong, dài 2 trượng 5 thước, cao 8 thước 5 tấc, dày 2 thước 1 tấc. Mặt trước có hồ vuông, chu vi 57 trượng, bờ hồ xây đá, có lan can gạch bao quanh”.

Ý nghĩa đặc biệt và cao cả nhất khi xây dựng đàn Xã Tắc là triều đình bấy giờ đã dùng đất của tất cả các địa phương trong nước để đắp thành đàn tế này. Vào tháng 2 năm Gia Long thứ 5 (1806), nhà vua đã ban chiếu cho tất cả các thành, dinh, trấn trên toàn quốc, bảo các địa phương phải chở về kinh đô Huế một số đất sạch và chắc để đắp đàn Xã Tắc: “Các dinh trấn đều cống hiến đất sạch và chắc: dinh Quảng Đức (nay là phủ Thừa Thiên) 100 khiêng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Bình Hòa, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, mỗi dinh 50 khiêng, trấn Thuận Thành 1 khiêng; Phiên An (nay là tỉnh Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (nay là tỉnh Vĩnh Long), Định Tường 4 dinh mỗi dinh 50 khiêng, trấn Hà Tiên 2 khiêng; Bắc Thành: 5 trấn ở trong mỗi trấn 50 khiêng, 6 trấn ở ngoài mỗi trấn 1 khiêng phái thuyền chở về kinh xây đắp”.

Nói chung từ khi vua Gia Long cho xây dựng đàn Xã Tắc cho đến khi nhà Nguyễn cáo chung thì quy mô, kiến trúc của đàn hầu như không thay đổi. Dưới thời vua Minh Mạng đàn có sửa chữa 3 lần nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc vốn có của nó: Lần thứ nhất vào năm Minh Mạng thứ 3; lần thứ 2 vào năm Minh Mạng thứ 12, sửa sang tường thấp và các chỗ bờ hồ ở đàn Xã Tắc; lần thứ 3 là vào năm Minh Mạng thứ 21, tu bổ cánh cửa mặt trước đàn Xã Tắc và dựng tảng đá để cắm tàn ở mặt trước tầng thứ 2.

Triều đình nhà Nguyễn tổ chức cúng tế ở đàn Xã Tắc cứ 3 năm một lần vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã nhiều lần thân hành đến làm chủ lễ ở đàn Xã Tắc, ngoài ra có thể sai các đại thần của triều đình đến tế thay. Lễ cúng tế ở đàn Xã Tắc thuộc vào loại  “đại tự” của triều đình nên được chuẩn bị rất chu đáo, tổ chức rất quy mô và thành kính.

Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An: sau khi Nhà Nguyễn cáo chung, hầu hết các bộ phận kiến trúc của đàn Xã Tắc đã trở thành phế tích. Nhưng xét thấy đàn tế lộ thiên này đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử và văn hóa của đất nước. Cho nên chúng ta cần phải tìm hiểu các tài liệu, tư liệu có liên quan để trùng tu, phục chế lại cổ tích của tiền nhân để lại này.

Hiện nay, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV đang bảo quản 34.619 tấm tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn đã được Unesco công nhận là Di sản tư liệu thế giới. Thật may mắn là trong đó còn có những tấm Mộc bản khắc lại vị trí, quá trình xây dựng cũng như quy mô, kiến trúc của đàn Xã Tắc. Đây là những tư liệu gốc rất có giá trị phục vụ cho việc nghiên cứu, trùng tu, phục dựng lại đàn tế lộ thiên này trên mảnh đất Kinh sư – một cổ tích biểu hiện cho một đất nước Việt Nam thống nhất dưới vương triều nhà Nguyễn.

TÀI LIỆU TAM KHẢO

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, năm 2004;

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa –Huế, năm 2006;

Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa; năm 2005

Hồ sơ H48/207, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

Hồ sơ H48/208, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

Hồ sơ H21/29, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

 

Bùi Thị Mai (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Ngày đăng 16.09.2016

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

Tòa soạn:

Tel/Fax:04.38256588

Email:tapchixuavanay@yahoo.com

 

VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh

Tel:08.38385117

Fax:08.38385126

Email: xuanay@hcm.fpt.vn

 

Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng

Tổng biên tập: Dương Trung Quốc

P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh

Đơn vị tài trợ